18:14, 03/12/2021
Chào mừng bạn đến với trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Điện Biên

Một số giải pháp thu thập các tài liệu, chứng cứ từ người tham gia tố tụng là người khuyết tật câm, điếc, khiếm thị trong giải quyết nguồn tin tội phạm và vụ án hình sự

Nâng cao chất lượng yêu cầu thu thập các tài liệu chứng cứ của Kiểm sát viên đối với các hoạt động điều tra liên quan đến người tham gia tố tụng là người khuyết tật, câm, điếc, khiếm thị
BÁO CÁO MÔ TẢ SÁNG KIẾN 
1. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp thu thập các tài liệu, chứng cứ từ người tham gia tố tụng là người khuyết tật câm, điếc, khiếm thị trong giải quyết nguồn tin tội phạm và vụ án hình sự”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Nâng cao chất lượng yêu cầu thu thập các tài liệu chứng cứ của Kiểm sát viên đối với các hoạt động điều tra liên quan đến người tham gia tố tụng là người khuyết tật, câm, điếc, khiếm thị.
          3. Mô tả bản chất của sáng kiến.
          3.1. Tình trạng giải pháp đã biết.
          Trước hết cần phải khẳng định rằng dù làm bất kỳ nghề nghiệp nào? Bất kỳ một công việc gì ? cũng đều phải có lòng yêu nghề, đam mê, tâm huyết với công việc. Có yêu nghề , tâm huyết với nghề thì mới để tâm nghiên cứu, tìm hiểu về nó để từ đó nắm vững và hành nghề có chất lượng và hiệu quả cao nhất.
          Trong quá trình công tác, xuất phát từ những vụ việc có thật, những va vấp trong quá trình công tác mà bản thân đã gặp phải, đó là được phân công giải quyết các tin báo, tố giác về tội phạm, những vụ án hình sự có liên quan đến người khuyết tật, câm điếc, khiếm thị thì quá trình thu thập các tài liệu, chứng cứ, lấy lời khai những người này cung cấp sẽ diễn ra như thế nào? Cách thức thu thập, lấy lời khai, hỏi cung phải diễn ra như thế nào để cho các chứng cứ dùng được, đúng trình tự, thủ tục của BLTTHS.
          Tình huống: Ngày 08/10/2020 tại bản Mường Toong 3, xã Mường Toong, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, Thào A Hùng (sinh năm: 1989) khi đang ở nhà một mình thì thấy điện mất. Khi xuống suối gần nhà để kiểm tra thì thấy
củ phát điện bằng nước lắp dưới suối của gia đình bị Vàng A Páo là đối tượng nghiện ma túy đã lấy trộm được củ phát điện và bỏ chạy, Hùng cầm dao đuổi theo và bắt được Páo, Hùng lấy sống dao phần không sắc nhọn, chuôi dao đập nhiều nhát gây thương tích tại vùng đầu của Páo.
          Khi được phân công giải quyết tin báo trên, là Kiểm sát viên bản thân đã gặp phải vấn đề đó là, Hùng là người khuyết tật câm, điếc bẩm sinh, là đối tượng “4 không”: Không nghe, không nói, không đọc, không hiểu tiếng phổ thông.
          Quá trình làm việc với Hùng rất khó khăn:
- Là người câm điếc bẩm sinh không được học qua bất kỳ trường lớp nào về ngôn ngữ ký hiệu nên không thể trưng cầu phiên dịch.
- Là người không biết chữ nên việc hỏi đáp qua giấy bút là điều không thể .       - Do câm, điếc bẩm sinh nên không hiểu tiếng phổ thông, cũng không thể hiểu tiếng dân tộc mình nên rất khó trong giao tiếp và làm việc.
          Đây là vụ việc thực tế mà bản thân Kiểm sát viên đã gặp trên thực tế, ngay khi nắm được nội dung vụ việc tôi có tìm hiểu các sách báo, tạp chí, các bài viết về kỹ năng của Kiểm sát viên, nhưng dữ liệu về vấn đề này là rất ít, bản thân cũng chưa được tham gia buổi học tập, tập huấn nào liên quan đến kỹ năng thu thập các tài liệu chứng cứ, lấy lời khai do người khuyết tật cung cấp, cách thức thu thập như thế nào? Là một câu hỏi mà Điều tra viên hỏi thì bản thân Kiểm sát viên phải có định hướng trả lời, rõ ràng cụ thể ra sao.
          Chính vì vậy, để giải quyết câu hỏi trên cho thấy sự cần thiết phải đề ra một số phương pháp thực hiện có tính mới, tính hiệu quả để áp dụng vào vụ việc cụ thể nêu trên:
          3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
          - Mục đích của giải pháp: Nhằm đưa ra các giải pháp, cách thức thu thập chứng cứ, lấy lời khai người tham gia tố tụng là người khuyết tật câm, điếc, khiếm thị (sau đây gọi tắt là NKT)
          - Nội dung giải pháp:
3.2.1.Cho NKT diễn lại, mô tả lại hành vi mình hoặc người khác đã thực hiện sau đó ghi lại bằng hình ảnh, video.
- Đây là một hoạt động gần giống với thực nghiệm điều tra, nhưng phải ghi hình, quay video là điều bắt buộc,
- Các hành động mà NKT diễn lại, mô tả lại các tình huống, hành vi và dựng lại hiện trường. Phải được người phiên dịch hoặc người giám hộ tham gia thì mới có thể hiểu được những mà điều NKT trình bày. Sau đó những người này lại trình bày lại cho Điều tra viên, Kiểm sát viên.
- Việc ghi hình lại việc diễn lại, mô tả lại các hành vi tức là được lưu trữ chứng cứ dưới dạng dữ liệu điện tử, đây là cách làm khách quan, chính xác phản ánh đúng ý chí của NKT khi tham gia tố tụng khi là người bị buộc tội, người bị hại, hay người làm chứng…Là nguồn chứng cứ mang ra đối chiếu, so sánh với các tài liệu, chứng cứ khác.
3.2.2. Khi làm việc với NKT cần có sự tham gia của người giám hộ là người thân thích với NKT, người phiên dịch là bắt buộc.
Rất ít trường hợp NKT được đi học tại trường câm điếc nên việc phiên dịch “ký hiệu” của người phiên dịch chưa chắc đã đảm bảo đúng 100% “ký hiệu” của NKT về hành vi phạm tội của mình, người bị hại hoặc làm chứng mà có thể chỉ có bố mẹ hoặc người thân của NKT là người mới hiểu được NKT muốn trình bày điều gì.
Nên khi làm việc với NKT cần phải ngay lập tức mời người thân của NKT đến làm người giám hộ, vừa đảm bảo được khách quan, thuận lợi trong việc phiên dịch.
3.2.3. Thực hiện cho NKT nhận dạng qua hình ảnh, nhận dạng trực tiếp, đối với người khiếm thị thì cho nhân biết qua âm thanh, giọng nói.
- Đối với người tham gia tố tụng là NKT nhìn được thì tiến hành hoạt động điều cho nhận dạng bằng hình ảnh, nhận dạng trực tiếp con người.
- Còn đối với người khiếm thị thì khả năng thích giác của họ rất tốt nên việc nhận biết qua âm thanh, giọng nói là hoạt động điều tra cần tiến hành.
3.2.4. Trường hợp NKT không biết chữ thì cho NKT vẽ lại.
- Đây là một điểm mới mà Kiểm sát viên nên yêu cầu Điều tra viên tiến hành cho NKT vẽ lại các hành vi, mặc dù không biết chữ, không biết đọc, nhưng là con người có nhận thức thì hoàn toàn có thể diễn đạt các lời khai của mình thông qua hình thức vẽ lại trên giấy.
- Đây cũng được coi là nguồn chứng cứ quan trọng khi làm việc với NKT, chứng cứ này hoàn toàn được thu thập một cách hợp pháp, đúng trình tự, phản ánh chân thực, khách quan ý chí, suy nghĩ, trí nhớ của NKT.
3.2.5. Trường hợp NKT biết chữ thì cho viết bản tự khai,  hỏi và trả lời trong biên bản qua giấy bút.
Đây là một phương pháp phải được áp dụng trong trường hợp NKT là người biết chữ, họ chỉ có thể khai qua hình thức chữ viết của bản thân. Điều tra viên, Kiểm sát viên khi đặt câu hỏi thì viết ra giấy trong biên bản các câu hỏi, sau đó NKT trả lời cũng bằng cách viết trong biên bản.
Các biểu mẫu biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can hiện nay chưa có mẫu đối với NKT, chính vì vậy cá nhân tôi cho rằng phải có những kiến nghị, đề xuất áp dụng những đặc thù riêng khi lấy lời khai NKT chẳng hạn như:
Biên bản ghi lời khai, BB hỏi cung bị can, bị hại, người làm chứng… là NKT thì không thể tiến hành các hoạt động ghi âm, ghi hình có âm thanh như bình thường.
Biên bản thể hiện việc trả lời bằng chữ viết, do vậy người ghi biên bản vừa là cán bộ điều tra, vừa là người trả lời (NKT).
3.2.6. Giải pháp thu thập các tài liệu, chứng cứ, lấy lời khai NKT là phụ nữ, trẻ em gái, bị hại trong các vụ án trong các vụ án xâm hại tình dục.
Nạn nhân bị xâm hại tình dục là phụ nữ, trẻ em gái khuyết tật thường rơi vào nhóm người câm, điếc, khiếm thị hoặc có khuyết tật về trí tuệ.
Hậu quả với nạn nhân sẽ trở nên rất nặng nề và tạo tâm lý hoang mang, lo lắng về môi trường sống không an toàn cho phụ nữ, trẻ em gái khuyết tật, ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng sống của họ. Thực tế vẫn còn nhiều phụ nữ và trẻ em gái khuyết tật bị xâm hại tình dục nhưng không nhận thức được mình bị bạo lực tình dục và không dám lên tiếng. Do tâm lý mặc cảm, tự ti, một số người chỉ biết chia sẻ với người thân trong gia đình mà không dám chia sẻ với các cơ quan chức năng liên quan.
Chính vì vậy khi tiến hành làm việc với người bị hại là NKT trong các vụ án xâm phạm tình dục phải lưu ý tiến hành các hoạt động như sau:
- Việc lấy lời khai người bị hại là người bình thường trong các vụ án xâm hại tình dục đã khó, còn đối với người bị hại là người NKT thì càng khó khăn hơn, việc hỏi, lấy lời khai phải đảm bảo được sự thân thiện, Điều tra viên, Kiểm sát viên nên hỏi ở địa điểm là nhà của người bị hại, khi làm việc nên mặc quần áo dân sự sẽ tạo được cảm giác an toàn, thiện cảm, nên để Điều tra viên, Kiểm sát viên là nữ tiến hành hỏi sẽ hiệu quả hơn, có hiểu biết về tâm lý phụ nữ, vì phụ nữ dễ chia sẻ và đồng cảm với nhau hơn.
- Việc tham gia của người giám hộ là cần thiết, bắt buộc nhưng nên để người bị hại là NKT vẽ lại, mô tả hay trình bày lại một cách độc lập.
- Việc nhận dạng nên để hoạt động nhận dạng qua hình ảnh, không nên cho nhận dạng trực tiếp sẽ gây nên tâm lý hoang mang cho NKT là người bị hại.
- Thời gian tiến hành lấy lời bằng cách viết lại cần tiến hành bằng các câu hỏi ngắn, dể hiểu để NKT trình bày bằng chữ viết. 
3.3. Khả năng và phạm vi áp dụng của giải pháp: Xuất phát từ vụ việc cụ thể, việc áp dụng một số các giải pháp, cách thức thu thập chứng cứ, lấy lời khai người tham gia tố tụng là người khuyết tật câm, điếc, khiếm thị là hoàn toàn áp dụng được trên thực tế.
Mặc dù có thể cách diễn đạt mô tả các giải pháp của bản thân tôi chưa được hoàn thiện, nhưng đây có thể là một số giải pháp mà các Kiểm sát viên khác hoàn toàn có thể áp dụng trong vụ việc cụ thể khi có người tham gia tố tụng là NKT.
Quay trở lại tình huống thực tế đã nêu ở phần đầu, đây là tình huống điển hình về hoạt động điều tra, kiểm sát điều tra, đề ra yêu cầu điều tra có hiệu quả, một số phương pháp Kiểm sát viên đã yêu cầu Điều tra viên tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập các chứng cứ do Thào A Hùng là người khuyết tật câm điếc bẩm sinh cung cấp, cụ thể như sau:
Thứ nhất, ban đầu cho Hùng vẽ lại các vị trí xảy ra sự việc, bao gồm các vị trí nhà của Hùng, vị trí đặt củ phát điện, vị trí mà Hùng thấy Páo cầm củ phát điện bỏ chạy. Qua đó xác định được hiện trường xảy ra.
Thứ hai, cho Hùng tiến hành hoạt động nhận dạng, ban đầu là nhận dạng giọng nói của đối tượng, sau đó mới nhận dạng người.
Thứ ba, tiến hành ghi hình lại toàn bộ các hành vi mà Hùng là NKT diễn lại, mô tả lại chi tiết, quá trình Hùng đạp và bắt giữ Páo như thế nào, dùng sống dao đánh Páo bao nhiêu nhát.
Qua đó thu thập được các chứng cứ, tài liệu một cách đảm bảo đúng quy định của BLTTHS. Góp phần giải quyết vụ việc đảm bảo đúng tiến độ.
3.4. Các thông tin cần được bảo mật: Không.
3.5. Các tài liệu kèm theo:
4. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền: Tôi xin cam đoan đây là các giải pháp nghiên cứu độc lập của riêng tôi, không sao chép hoặc vi phạm bản quyền của bất kỳ tác giả nào khác, tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của báo cáo này.
 
  Mường Lay, ngày 08 tháng 10 năm 2021
Tác giả sáng kiến
 
 
(đã ký)
 
 
Nguyễn Tiến Đỗ

Tác giả bài viết: Nguyễn Tiến Đỗ

Những tin mới hơn

 

Liên kết

  • Đang truy cập: 53
  • Khách viếng thăm: 52
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 16879
  • Tháng hiện tại: 56746
  • Tổng lượt truy cập: 5133720
Hệ thống quản lý văn bản và điều hành
Email nội bộ ngành KSND