17:37, 03/12/2021
Chào mừng bạn đến với trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Điện Biên

Kỹ năng của KSV trong việc công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại các phiên tòa hình sự.

Nâng cao chất lượng công tác chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vụ hình sự - tố tụng hình sự.
BÁO CÁO MÔ TẢ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: Kỹ năng của KSV trong việc công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại các phiên tòa hình sự.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: nâng cao chất lượng công tác chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vụ hình sự - tố tụng hình sự.
3. Mô tả bản chất của sáng kiến:
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết (nêu hiện trạng trước khi áp dụng giải pháp mới; phân tích ưu, nhược điểm của giải pháp cũ để cho thấy sự cần thiết của việc đề xuất giải pháp mới nhằm khắc phục nhược điểm của giải pháp cũ):
Là cơ quan do Quốc hội thành lập từ năm 1960 cho tới nay, Viện kiểm sát (VKS) thừa hành quyền lực từ Quốc hội, chức năng của VKS hiện nay được quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Trước yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế, Viện kiểm sát nhân dân phải từng bước đổi mới tổ chức, đổi mới phương thức hoạt động đề cao trách nhiệm trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố (THQCT) trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự nhằm đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, không làm oan sai, bỏ lọt tội phạm.
Trong các hoạt động tố tụng của VKS, hoạt động xét xử tại tòa án là quan trọng. Đây là hoạt động mà VKS truy tố người phạm tội ra trước Tòa án, khẳng định người đó có tội hay không có tội, là tổng hòa kết quả của tất cả quá trình thu thập chứng chứ trong quá trình điều tra, truy tố để người phạm tội phải tâm phục, khẩu phục trước những chứng cứ và lập luận của VKS, để Hội đồng xét xử có căn cứ để ban hành bản án nghiêm minh đối với người phạm tội. Quá trình tranh tụng, KSV phải đưa ra những chứng cứ, tài liệu để bảo vệ Cáo trạng mà VKS đã ban hành. Thực tiễn cho thấy việc công bố và xem xét chứng cứ thông qua phương thức trình chiếu các tài liệu, chứng cứ đã được số hóa là cách thức sinh động, thuyết phục và hiệu quả cao hơn so với phương pháp trình bày bằng lời nói. Qua đó, đảm bảo thực hiện tốt nguyên tắc công khai chứng cứ tại phiên tòa và tăng cường hiệu quả hoạt động tranh tụng.
Mặt khác, Tại Chỉ thị số 01/CT-VKSTC ngày 28/12/2019 của Viện trưởng VKSND tối cao yêu cầu: “Triển khai thực hiện việc ghi âm, ghi hình theo đúng quy định pháp luật. Đẩy mạnh các biện pháp nhằm nâng cao kỹ năng, chất lượng các hoạt động xét hỏi, tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự; tiếp tục thực hiện việc công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa trong toàn Ngành”. Do đó, hoạt động công bố những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố để Hội đồng xét xử, người phạm tội, những người chứng kiến và tham gia phiên tòa thấy được việc truy tố của VKS là đúng người, đúng tội, không oan sai.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
- Mục đích của giải pháp: (nêu vấn đề cần giải quyết).
Với mong muốn đưa ra một số đề xuất, giải pháp nâng cao chất lượng của hoạt động tranh tụng của KSV tại các phiên tòa hình sự trong điều kiện cải cách tư pháp, tác giả chọn vấn đề: “Kỹ năng của KSV trong việc công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại các phiên tòa hình sự.” làm sáng kiến kinh nghiệm năm 2021. Việc đăng ký sáng kiến kinh nghiệm này, nhằm chia sẻ với các đồng nghiệp để hoàn thành tốt hơn chức trách nhiệm vụ được giao trong công tác giải quyết các vụ án hình sự tại tỉnh Điện Biên.
- Nội dung giải pháp (chỉ ra tính mới, sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ; nêu cách thức thực hiện...):
PHẦN THỨ NHẤT
KHÁI NIỆM VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN VIỆC CÔNG BỐ TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ BẰNG HÌNH ẢNH TẠI PHIÊN TÒA
1. Khái niệm:
Để có thể thực hiện công bố tài liệu, chứng cứ của vụ án hình sự tại phiên tòa đạt kết quả cao cần phải đảm bảo hai điều kiện đó là: thực hiện việc số hóa hồ sơ vụ án và kỹ năng của KSV thực hiện công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa.
- Thực hiện việc số hóa hồ sơ: là hình thức chuyển đổi các dữ liệu truyền thống thành những dữ liệu số mà máy tính có thể hiểu được (ví dụ: dạng file PDF, docx, pptx..). Việc số hóa tài liệu giúp chúng ta có thể chỉnh sửa, tái sử dụng tài liệu và linh hoạt trong việc chuyển đổi sang các dạng tài liệu số khác nhau. Đối với ngành Kiểm sát nhân dân, số hóa hồ sơ vụ án là phương pháp sử dụng thiết bị công nghệ (máy photo, máy scan..) để chuyển hóa chứng cứ từ dạng vật chất (văn bản giấy, hình ảnh, chứng cứ bằng lời nói…) thành dạng file hình ảnh hoặc video để những người tiến hành tố tụng sử dụng máy tính, thông qua thiết bị trình chiếu có thể nhìn thấy, nghiên cứu và trích xuất mà không phải sử dụng đến hồ sơ vụ án.
- Kỹ năng của KSV thực hiện công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa: Từ hồ sơ vụ án đã được số hóa, Kiểm sát viên thực hiện việc truy xuất các chứng cứ, tài liệu liên quan trong vụ án như biên bản, lý lịch, các quyết định tố tụng, chứng cứ buộc tội, gỡ tội… để thực hiện việc trình chiếu, công bố các tài liệu, chứng cứ để đối đáp có căn cứ, đầy đủ các ý kiến của Luật sư, Người bào chữa, nhưng người tham gia tố tụng khác và thuyết phục được Hội đồng xét xử, qua đó bảo vệ tốt quan điểm truy tố, xử lý vụ án trong nội dung mà bản Cáo trạng đã nêu.
2. Quy trình để thực hiện việc công bố tại phiên tòa:
2.1 Kỹ năng KSV chuẩn bị tài liệu đã số hóa trong hồ sơ vụ án:
Để số hóa hồ sơ, trước tiên cần phải chuẩn bị các thiết bị phần cứng như máy tính, máy in, máy chụp tài liệu (Scan hoặc máy photocopy), máy quét ảnh và các phần mềm để quản lý, cũng như tra tìm tài liệu … Trong đó, máy scan hoặc máy photocopy có chức năng scan; đối với máy tính thì phải sử dụng máy tính từ không có kết nối internet và các thiết bị lưu trữ gồm ổ cứng máy tính, USB hặc ổ cứng di động. Việc số hóa hồ sơ vừa bảo đảm phục vụ tốt công tác chuyên môn nghiệp vụ, vừa đảm bảo tính bảo mật, đồng thời làm tốt công tác lưu trữ. Thứ hai, đó là các phần mềm để thực hiện việc số hóa hồ sơ, đó là: Foxit Reader (dùng để đọc, chỉnh sửa file định dạng pdf); Foxit Phantom (dùng để quét tài liệu từ máy scan vào máy tính dưới dạng file pdf)….
Hiện nay, tài liệu hồ sơ vụ án đã được giao cán bộ văn phòng thực hiện việc số hóa… KSV chỉ thực hiện việc giao hồ sơ xuống phòng scan, sau đó sẽ nhận lại hồ sơ và file pdf đã được số hóa hồ sơ. Để hồ sơ số hóa không phải mất nhiều thời gian chỉnh sửa, cắt ghép file, khi KSV mang hồ sơ xuống phòng scan phải đảm bảo hồ sơ được sắp xếp theo trình tự nhất định, được chia theo tệp rõ ràng (ví dụ tập tố tụng, tập điều tra, tập vật chứng….) để cán bộ số hóa chủ động thực hiện việc chia tác file.
Khi KSV nhận lại được file số hóa hồ sơ, để chuẩn bị cho việc trình chiếu, công bố các tài liệu chứng cứ tại phiên tòa thì phải nghiên cứu hồ sơ, chọn các file cần thiết để trình chiếu (như bản ảnh hiện trường, thực nghiệm điều tra, lời khai bị can….) và cần phải được chú thích rõ ràng, tạo điều kiện để truy xuất nhanh các tài liệu phục vụ việc tranh tụng tại phiên tòa. Việc ghi chú các tài liệu có thể được hiện bằng hai phương pháp, tùy vào từng trường hợp có thể kết hợp cả hai phương pháp để đạt hiệu quả cao nhất, đó là: Đánh dấu phần tài liệu cần trình chiếu (tạo các bookmarks trên file pdf) hoặc trích xuất thành các file pdf riêng để tiện trong quá trình trình chiếu.
a) Đánh dấu các phần tài liệu cần trình chiếu:
Để đánh dấu các phần trình chiếu, chúng ta sử dụng sử dụng chức năng bookmarks (tạo ghi chú) trong phần mềm Foxit Reader để đánh dấu những phần của tài liệu cần trình chiếu để thuận tiện trong quá trình trình chiếu. Khi cần trình chiếu chỉ cần bấm chuột vào ghi chú đó là sẽ truy cập được tài liệu cần trình chiếu một cách nhanh chóng. Việc thao tác được thực hiện như sau:
 
(Bước 1. Chọn vào biểu tượng Bookmarks)


Bước 2. Sau khi bảng Bookmarks hiện ra, ta chọn vào các biểu tượng được đánh số thứ tự 1, 2, 3 như sau:


- Biểu tượng số 1 là xóa đi một bookmarks (ghi chú) đã tạo; biểu tượng số 2 là thêm một bookmarks (ghi chú), biểu tượng số 3 là chức tìm kiếm tùy chỉnh màu của các bookmarks (ghi chú). Sau khi thêm một bookmark ta có thể chú thích các mục đó phù hợp với những chứng cứ mà chúng ta dự định trình chiếu.
Khi cần trình chiếu tài liệu, chứng cứ, chỉ cần kích vào mục ghi chú mà mình đã đặt tên thì phần mềm Foxit reader sẽ tự động truy xuất đến tài liệu ghi chú đó một cách nhanh  chóng, giúp KSV không phải mất thời gian tìm kiếm tài liệu, chứng cứ trong file pdf đó. Hỗ trợ rất hiệu quả khi tại phiên tòa, khi KSV cần thời gian ngắn để thực hiện việc trình chiếu.
b) Cắt các file pdf thành các trang cần trình chiếu:
Đối với một số KSV khi sử dụng phần tạo bookmarks không nhanh hoặc chưa quen, có thể sử dụng việc cắt file pdf số hóa hồ sơ thành các file riêng biệt để tiện trong quá trình truy cập, trình chiếu hồ sơ. Sử dụng chứng năng Print của phần mềm Foxit reader để thực hiện việc cắt trang.
Bước 1: Truy cập vào phần mềm Foxit Reader vừa tải, mở file PDF cần cắt và nhấn vào biểu tượng Print hoặc sử dụng tổ hợp phím Ctrl + P để vào chế độ in.

Nhấn Print hoặc tổ hợp phím Ctrl + P để mở chế độ in 
Bước 2: Tại đây, ở mục Name, chọn Foxit Reader PDF Printer.
Tại mục Print Range, bạn click vào Page rồi nhập số trang hoặc khoảng trang cần cắt (Ví dụ: 3, 5 - 20, 56 là cắt trang 3, từ trang 5 đến trang 20 và trang 56), sau đó nhấn OK.

Nhập số trang hoặc khoảng trang cần cắt
Bước 3Đặt tên cho file vừa cắt sau đó bấm Save.

Đặt tên file và lưu
Việc đặt tên cho file cần lưu, cần lưu ý, phải lưu theo trình tự khoa học. Đối với kinh nghiệm của bản thân. Việc đặt tên cho file cần lưu, được đặt theo thứ tự từ 1 đến hết tương ứng với các tài liệu cần lưu trong hồ sơ (nếu là hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm) hoặc được đánh cùng số bút lục với hồ sơ để thuận tiện cho quá trình lưu. Ví dụ:

 
2.2 Kỹ năng chuẩn bị các thiết bị để thực hiện việc trình chiếu các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa:
Để chuẩn bị các thiết bị thực hiện việc trình chiếu các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa của KSV phải chủ động trao đổi với thẩm phán của phiên tòa về việc sẽ thực hiện việc trình chiếu, công bố các tài liệu chứng cứ của phiên tòa. Việc trao đổi phải được thực hiện ít nhất 01 ngày trước khi xét xử, để Tòa án và VKS phân công cán bộ thực hiện phối hợp chuẩn bị các thiết bị thực hiện việc trình chiếu.
Sau khi trao đổi xong, KSV chủ động chuẩn bị bị các thiết bị phục vụ cho quá trình công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa hoặc giao cho KSV khác thực hiện khâu công tác này. Việc chuẩn bị các thiết bị thực hiện trình chiếu tại phiên toàn cần được chuẩn bị thực hiện một cách kỹ lưỡng, cần phải được kiểm tra hoạt động trước khi phiên toàn bắt đầu. Tránh những trục trặc hoặc hư hỏng không đáng có làm ảnh hưởng đến phiên tòa.
- Về công cụ, phương tiện cần phải chuẩn bị, cần có: 01 máy chiếu; 01 màn hình của máy chiếu; 01 máy tính thực hiện việc trình chiếu; 01 màn hình phụ để KSV tiện theo dõi việc trình chiếu chứng cứ; 01 bộ chia HDMI: dùng để dẫn hình ảnh từ máy tính thực hiện việc trình chiếu ra màn hình phụ, máy chiếu để thực hiện chiếu hình ảnh; 03 đoạn dây HDMI để thực hiện việc kết nối như hình minh họa.
- Việc số hóa được thực hiện theo sơ đồ sau: (áp dụng với việc xét xử tại tòa án nhân tỉnh Điện Biên)

Việc thực hiện trình chiếu có thể do trực tiếp KSV trực tiếp tham gia xét xử tại phiên tòa hoặc do cán bộ kĩ thuật là KSV hoặc Kiểm tra viên khác phụ trách. Giữa KSV thực hiện việc xét xử và KSV thực hiện việc trình chiếu phải có sự trao đổi, phối hợp với nhau nhịp nhàng trong việc trình chiếu các tài liệu chứng cứ. Cả hai có thể trao đổi với nhau qua phần mềm chat zalo, hoặc trực tiếp thao tác điều khiển máy tính của KSV thực hiện việc trình chiếu bằng phần mềm Teamview hoặc untralview.
 2.3 Kỹ năng của KSV thực hiện việc trình chiếu:
Việc trình chiếu được thực hiện xuyên suốt trong quá trình xét xử và được thực hiện do: 01 KSV vừa thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa vừa thực hiện việc trình chiếu hoặc được giao cho 01 cán bộ là KSV hoặc Kiểm tra viên khác phối hợp thực hiện trình chiếu, công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh để mọi người có mặt tại phiên tòa được biết, theo dõi (nên lựa chọn những KSV, Kiểm tra viên đã giúp việc cho KSV về vụ án đó và có hiểu biết về công nghệ thông tin).
Tại phần mở đầu của phiên tòa, khi chủ tọa phiên tòa tiến hành thẩm phấn lý lịch bị can, lý lịch bị hại…. thì cán bộ trình chiếu thực hiện việc trình chiếu lý lịch bị can, lý lịch bị hại… đã thu thập trong hồ sơ để mọi người tiện theo dõi bằng cách chiếu lên màn hình bản scan cáo trạng (nếu dùng phần mềm Foxit Reader thì nhấn phím “F11” để chiếu toàn màn hình, di chuyển trang bằng phím mũi tên phải; có thể kết hợp thao tác zoom màn hình máy tính bằng tổ hợp phím “window và dấu +” để nhìn rõ hơn).
Phần xét hỏi, KSV công bố cáo trạng thì đồng thời trình chiếu bản cáo trạng đã được số hóa lên màn hình chiếu cho tất cả những người có mặt tại phiên tòa biết và theo dõi. Khi đến phần thẩm vấn, xét hỏi tại phiên tòa, từ hồ sơ vụ án đã được số hóa, việc truy xuất các chứng cứ, tài liệu liên quan trong vụ án như biên bản, lý lịch, các quyết định tố tụng, chứng cứ buộc tội, gỡ tội… sẽ giúp cho Kiểm sát viên trong quá trình xét xử tự tin hơn khi đưa ra những tài liệu, thông tin mang tính chính xác và thuyết phục cao. Trong đó, cần chú trọng công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa đối với các vụ án Cố ý gây thương tích, Giết người, Đánh bạc hoặc các vụ án được khởi tố căn cứ từ nguồn là chứng cứ điện tử ... mà trong hồ sơ vụ án có Bản ảnh hiện trường, các video, clip ... ghi lại được diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo hay hoạt động khác liên quan. Bằng những hình ảnh được trình chiếu, Kiểm sát viên sẽ làm tốt công tác tranh tụng, bảo vệ quan điểm truy tố, cũng như làm rõ các vấn đề liên quan trước khi phát biểu quan điểm giải quyết vụ án.
Phần xét hỏi hoặc tranh luận, khi thực hiện hoạt động công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa đó là Kiểm sát viên phải dự kiến những tình huống bị cáo phản cung, chối tội hoặc Luật sư tham gia bào chữa theo hướng không có tội ... để xây dựng đề cương trình chiếu nhằm chuẩn bị những chứng cứ, tài liệu cần trình chiếu để chứng minh cho nội dung tranh tụng, bảo vệ quan điểm truy tố. Để làm được việc này, từ hồ sơ vụ án đã được số hóa, KSV tiến hành truy xuất những chứng cứ, tài liệu đã dự kiến trong đề cương trình chiếu để tạo các thư mục nhỏ cho từng tình huống, nội dung cụ thể, từ đó sẽ giúp Kiểm sát viên dễ dàng sử dụng và cho trình chiếu tại phiên tòa. Những chứng cứ bằng hình ảnh, âm thanh, tài liệu này là dẫn chứng thiết thực để Kiểm sát viên tranh tụng lại những tình huống có thể phát sịnh tại phiên tòa như có người kêu oan, chối tội, từ chối khai báo ... hay những vấn đề khác có liên quan.
Tất cả những thao tác này nhằm mục đích cuối cùng là giúp Kiểm sát viên đối đáp có căn cứ, đầy đủ các ý kiến của Luật sư, Người bào chữa, nhưng người tham gia tố tụng khác và thuyết phục được Hội đồng xét xử, qua đó bảo vệ tốt quan điểm truy tố, xử lý vụ án trong nội dung mà bản Cáo trạng đã nêu.
* Những vấn đề cần lưu ý khi thực hiện việc trình chiếu, công bố những tài liệu chứng cứ tại phiên tòa:
- Việc trình chiếu, công bố những tài liệu, chứng cứ phải tuân theo quy định tại các Điều 308, 312, 315 Bộ luật Tố tụng hình sự: KSV không được công bố lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố nếu người được xét hỏi có mặt tại phiên tòa hoặc cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân... và chỉ được tiến hành khi được Chủ tọa phiên tòa hay Hội đồng xét xử đồng ý; Ngoài ra, những tài liệu mật khi công bố phải được giải mật, được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền.
- Việc trình chiếu những tài liệu, chứng cứ phải là những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Đối với những tài liệu không có trong hồ sơ sẽ không công nhận là chứng cứ, ngoài ra KSV còn bị nhận xét là vi phạm thủ tục tố tụng về thu thập chứng cứ. Ví dụ:
+ Đối với bản ảnh hiện trường, thực nghiệm điều tra do trực tiếp KSV chụp khi khám nghiệm hoặc file mềm ảnh KSV nhận được từ Phòng kỹ thuật của Công an. Chỉ được công bố những tài liệu, chứng cứ đã được đóng dấu bút lục của Cơ quan điều tra và có trong hồ sơ vụ án.
+ Trường hợp cần thiết, khi cần công bố những đĩa DVD ghi hình có thu âm thanh để làm chứng cứ buộc tội, làm rõ các tình tiết liên quan, không được tùy tiện lấy file mềm đã được lưu trong usb, máy tính mà Công an đã chuyển cho VKS để nghiên cứu. Trong trường hợp này, cần phải đề nghị Hội đồng xét xử mở niêm phong đĩa ghi hình có thu âm thanh trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc trình chiếu. Như vậy mới đúng thủ tục tố tụng.
- Khi thực hiện trình chiếu, giữa KSV thực hiện hoạt động xét xử và KSV, KTV thực hiện việc trình chiếu phải có sự trao đổi, phối hợp với nhau để việc trình chiếu có hiệu quả. Khi thực hiện trình chiếu, chọn chế độ trình chiếu 02 màn hình, trong đó 01 màn hình để nghiên cứu, chuẩn bị tài liệu, 01 màn hình để trình chiếu tài liệu. Thực hiện thao tác bằng cách nhấn tổ hợp phím “Window + P” trong máy tính rồi chọn chế độ 02 màn hình độc lập.
 
 
 
PHẦN THỨ HAI
ĐÁNH GIÁ VỀ HOẠT ĐỘNG SỐ HÓA HỒ SƠ VÀ TRÌNH CHIẾU CÁC TÀI LIỆU CHỨNG CỨ CỦA KSV TẠI PHIÊN TÒA:
1. Về ưu điểm:
a) Đối với hoạt động số hóa:
Khi thực hiện số hóa hồ sơ sẽ không phải in ấn, chuyển hoá các chứng cứ điện từ thành giấy tờ, từ đó giảm bớt chi phí (như các file ghi âm, file video, hình ảnh…);
Thuận lợi cho việc lưu trữ, tiết kiện diện tích lưu trữ và chi phí lưu trữ, sẽ không giảm về mặt vật lý, hoá học của tài liệu gốc theo thời gian (để nhiều năm không lo mối mọt, mục nát, biến đổi, hỏng tài liệu, cháy nổ, hoả hoạn…);
Thuận tiện cho việc truy xuất dữ liệu mọi lúc, mọi nơi, việc tìm kiếm tài liệu với những hồ sơ hàng ngàn, vài chục ngàn, trăm ngàn bút lục trở nên rất dễ dàng, ngay tức thì (mà đối với hồ sơ giấy tốn rất nhiều thời gian, khó tìm kiếm). Nếu áp dụng ngay từ giai đoạn xử lý nguồn tin về tội phạm, điều tra thì thuận tiện cho các Điều tra viên, Kiểm sát viên mang theo khi đi làm việc với người bị tố giác, bị can, người liên quan, nhân chứng ở xa, tránh việc thất lạc;
Thuận tiện cho việc chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, giữa cấp dưới và cấp trên khi thỉnh thị nghiệp vụ và cung cấp cho người bào chữa, những người tham gia vụ án được quyền sao chụp tài liệu (không phải mất công phô tô tài liệu); linh hoạt trong việc chuyển đổi qua lại giữa các dạng tài liệu số khác; đối với những vụ án lớn, cần phải chuyển tài liệu trước cho Kiểm sát viên, Thẩm phán nghiên cứu.
Thuận tiện cho việc báo cáo án, cho Lãnh đạo nghiên cứu hồ sơ vụ án, chỉ đạo điều hành mà không phải mang hồ sơ chuyển giao qua lại dễ gây thất thoát tài liệu (những hồ sơ hàng vài chục ngàn bút lục thì việc cung cấp, chuyển giao hồ sơ rất khó thực hiện).
Gọn nhẹ và phục vụ tối đa cho hoạt động tranh tụng tại Tòa bảo đảm khách quan, chính xác và thuyết phục cao.
Thuận lợi cho việc sắp xếp các tài liệu chứng cứ buộc tội và gỡ tội đối với từng bị can, bị cáo (có thể tạo ra từng thư mục riêng về chứng cứ buộc tội và gỡ tội với từng bị can, bị cáo để thuận tiện việc truy xuất, nghiên cứu, báo cáo và theo dõi, tranh tụng, lên Kết luận điều tra, Cáo trạng, Luận tội, ra Bản án…).
b) Đối với việc thực hiện trình chiếu các tài liệu, chứng cứ tại phiên tòa:
- Giúp Kiểm sát viên chủ động và linh hoạt hơn trong quá trình tham gia thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử. Tại phiên tòa, có nhiều tình huống phức tạp có thể diễn ra, đòi hỏi Kiểm sát viên phải nhanh chóng, linh hoạt giải quyết, việc sử dụng hồ sơ giấy hoặc tài liệu trích cứu có thể không bảo đảm kịp thời, khi đó việc sử dụng hồ sơ, tài liệu số hóa lại mang lại hiệu quả rất cao, chỉ bằng những thao tác đơn giản cũng có thể nhanh chóng tìm được tài liệu cần thiết.
- Việc công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa góp phần bảo đảm tính khách quan khi kiểm chứng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bảo đảm tính thuyết phục trong quá trình tranh luận, đối đáp của Kiểm sát viên, đấu tranh có hiệu quả đối với các trường hợp bị cáo có biểu hiện quanh co, chối tội hoặc từ chối khai báo cũng như các quan điểm trái chiều do những người tham gia tố tụng khác đưa ra.
- Ngoài ra, việc số hóa hồ sơ từng bước chuyển biến tích cực trong việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành Kiểm sát nhân dân, góp phần nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo điều hành, ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác chuyên môn nghiệp vụ và khắc phục khó khăn do thiếu biên chế.
2. Về hạn chế:
a) Đối với hoạt động số hóa hồ sơ:
Hiện nay chưa có thông tư liên ngành giữa Bộ công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao về việc số hoá hồ sơ hình sự, mới chỉ có ngành Kiểm sát áp dụng nên chưa khai thác hết hiệu quả của việc số hoá hồ sơ. Việc số hoá mới chỉ thực hiện ở giai đoạn truy tố, phục vụ cho việc truy tố và tranh tụng tại phiên toà.
Chưa có các quy định, hướng dẫn về việc bảo mật tài liệu số hoá, dẫn tới có nguy cơ cao về lộ lọt, thất thoát thông tin khi lưu trữ, quản lý, chuyển giao tài liệu khi sao chép vào thiết bị lưu trữ và cắm vào các máy tính có kết nối internet không an toàn.
Đối với các vụ án được giải quyết tại cấp tỉnh là những vụ án phức tạp, thuộc án rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Việc số hóa hồ sơ được thực hiện ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm và giai đoạn điều tra vụ án. Hoạt động số hóa và lưu trữ được giao cho cán bộ văn phòng không được phân công giải quyết trong vụ án nên có thể sẽ bị lộ, lọt những thông tin về giải quyết vụ án nếu công tác quản lý, lưu trữ tài liệu số hóa không tốt.
Đối với việc nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ thông qua hồ sơ số hóa, Kiểm sát viên phải làm việc nhiều với màn hình máy tính để đọc tài liệu nên mắt có hiện tượng nhức mỏi. Việc nghiên cứu tài liệu số hóa trên máy tính gây hạn chế cho KSV trong việc nghiên cứu, so sánh, đối chiếu giữa các tài liệu với nhau; việc ghi chú, chú thích trong tài liệu.
Việc số hoá, sử dụng, tìm kiếm tài liệu đòi hỏi cán bộ phải có kiến thức tin học như: các chức năng của Word, Ecxel và việc điều chỉnh, sử dụng máy chiếu, kết nối các thiết bị máy tính xách tay với màn hình, máy chiếu, thao tác với các phần mềm chuyên dụng, các thao tác khi các thiết bị gặp trục trặc kỹ thuật ngay tại phiên toà. Với mặt bằng kiến thức tin học chung hiện nay cần phải được tập huấn, đào tạo thêm nhiều mới đáp ứng được yêu cầu.
b) Đối với hoạt động trình chiếu tại phiên tòa:
- Nếu phiên toà chỉ có 01 KSV tham gia xét xử thì việc vừa ghi chép bút ký phiên toà, theo dõi ý kiến tranh tụng của các bên, rồi truy xuất dữ liệu để trình chiếu, chuẩn bị nội dung để tranh luận là rất khó, vì bị phân tâm.
- Thực tế, hiệu quả của hoạt động trình chiếu chứng chưa cao:
+ Đối với trường có KSV hoặc KTV hỗ trợ việc trình chiếu thì KSV thực hiện việc trình chiếu thường ít bám vào nội dung trình chiếu hoặc thực hiện việc kết hợp trình chiếu với thẩm vấn để hoạt động trình chiếu đạt hiệu quả. Khi xét hỏi, KSV không hỏi những nội dung như: Đây là có phải là hình ảnh bị cáo đã thực nghiệm diễn lại hành vi phạm tội của bị cáo không? Đây có phải chữ ký hoặc bản tự khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra không? Có khách quan không?....Như vậy mới làm nổi bật hoạt động trình chiếu tại phiên tòa.
+ Hội đồng xét xử khi thực hiện xét xử, thường ít khi xem đến các chứng cứ được trình chiếu mà vẫn hỏi theo đề cương có sẵn, đã chuẩn bị. Mặt khác, bị cáo cũng không chú ý đến màn hình trình chiếu hoặc có trường hợp không biết chữ nên không đọc được. Do đó, nhiều trường việc trình chiếu chỉ mang tính hình thức.
+ Một số trường hợp, giữa KSV xét xử và KSV thực hiện việc trình chiếu các tài liệu, chứng cứ đã được số hóa theo sự phân công của KSV có thể tạo ra sự không không hiểu ý nhau, vô tình công bố nhầm các chứng cứ sẽ gây khó khăn cho quá trình chứng minh tội phạm và người phạm tội.
PHẦN THỨ BA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO KỸ NĂNG THỰC HIỆN VIỆC SỐ HÓA HỒ SƠ, KỸ NĂNG TRÌNH CHIẾU, CÔNG BỐ CÁC TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ TẠI PHIÊN TÒA
Trên cơ sở những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, bản thân rút ra được một số kinh nghiệm để thực hiện có hiệu quả việc “số hóa hồ sơ vụ án” và công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa như sau:
1. Đối với việc số hóa hồ sơ:
- Phải trang bị cơ sở vật chất bảo đảm đầy đủ cho quá trình xây dựng hồ sơ số hóa và quá trình công bố chứng cứ, tài liệu bằng hình ảnh tại phiên tòa. Đây là điều kiện tiên quyết, không thể thiếu để thực hiện được công tác này. Đối với các trang thiết bị máy tính, máy scan, máy photocopy và các thiết bị lưu trữ phục vụ cho công tác số hóa phải được trang bị riêng, chỉ sử dụng cho công tác số hóa hồ sơ và hoàn toàn không được kết nối internet.
- Bên cạnh đó, cần sử dụng mọi biện pháp để đảm bảo dữ liệu số hóa phải lưu trữ bảo mật cẩn thận theo đúng quy định theo Luật bảo vệ bí mật nhà nước và các quy định, quy chế về an toàn và bảo mật thông tin. Hồ sơ số hóa phải được sắp xếp khoa học, hạn chế tối đa việc sao chép dữ liệu trên nhiều máy tính khác nhau hoặc lưu trữ trên những thiết bị có kết nối internet, điện thoại thông minh…
- Việc sắp xếp hồ sơ số hóa của KSV cần phải thực sự khoa học, vừa bảo đảm theo trình tự của hồ sơ vụ án, vừa phải lập thành các danh mục tài liệu trên hồ sơ số hóa để dễ nhớ, dễ tra cứu.
2. Đối với việc công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa:
- Phải phối hợp tốt với Tòa án để thực hiện các nội dung công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa được thống nhất, tránh chồng chéo và thực hiện không đúng quy định của pháp luật.
- KSV thực hiện việc xét xử phải phối hợp với cán bộ kỹ thuật để phục vụ trong quá trình công bố hồ sơ số hóa tại phiên tòa.
- Phải chuẩn bị tốt các tài liệu chuẩn bị xét xử kết hợp với kế hoạch sử dụng chứng cứ, tài liệu được số hóa. Đây là nội dung then chốt, quyết định đến chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa, công tác chuẩn bị càng cụ thể, dự kiến được tình huống sát với nội dung vụ án bao nhiêu thì chất lượng tranh tụng và tính thuyết phục, khách quan khi đưa ra quan điểm của Viện kiểm sát càng cao.
- Kiểm sát viên phải nắm chắc hồ sơ vụ án và hồ sơ được số hóa, đánh dấu những nội dung cần lưu ý để tiện cho người xem trong quá trình công bố; tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật trong các tình huống công bố chứng cứ, tài liệu, số hóa, nắm chắc trường hợp nào được phép công bố, trường hợp nào không được công bố; vận dụng linh hoạt trong quá trình công bố tài liệu được số hóa tại phiên tòa theo các nội dung đã chuẩn bị và các nội dung phát sinh.
- Bảo đảm tuyệt đối về bí mật hồ sơ, trong quá trình thực hiện việc số hóa hồ sơ cũng như công bố tài liệu chứng cứ tại phiên tòa.
- Thời gian tới, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tạo điều kiện về đào tạo, bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ tin học cho cán bộ, Kiểm sát viên để nâng cao trình độ công nghệ thông tin, nhất là kỹ năng về sử dụng các thiết bị số phục vụ cho công tác số hóa hồ sơ vụ án và công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại phiên tòa.
PHẦN THỨ TƯ: KẾT LUẬN
Với những lợi ích, hiệu quả của hoạt động số hóa hồ sơ vụ án và công bố chứng cứ, tài liệu bằng hình ảnh thì cần thiết phải tiếp tục thực hiện việc số hóa hồ sơ, tích cực công bố những tài liệu, chứng bằng hình ảnh tại phiên tòa để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay. Ngoài ra phải có sự quan tâm, định hướng của tập thể lãnh đạo qua đó có thể phát huy năng lực, sở trường của từng cán bộ. KSV phải phối hợp với cơ quan điều tra để giải quyết toàn diện, nhanh chóng các vụ án hình sự. Trên đây là “Kỹ năng của KSV trong việc công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại các phiên tòa hình sự.”  Rất mong nhận được các ý kiến tham gia của các đồng chí trong ngành, của lãnh đạo để cùng trao đổi để tôi có thêm nhiều kinh nghiệm trong việc giải quyết vụ án hình sự.
3.3. Khả năng và phạm vi áp dụng của giải pháp (nêu cụ thể khả năng áp dụng vào thực tế của giải pháp mới, có thể áp dụng cho những đối tượng, đơn vị nào, mang lại hiệu quả gì): Các giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng của KSV trong việc công bố tài liệu, chứng cứ bằng hình ảnh tại các phiên tòa hình sự, có thể áp dụng vào thực tế ở hai cấp VKS tỉnh Điện Biên.
3.4. Các thông tin cần được bảo mật (nếu có yêu cầu): Không
3.5. Tài liệu kèm theo: (nếu có) : Không
4. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền: Tôi xin cam đoạn mọi thông tin nêu trong báo cáo là trung thực, đúng sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
5. Hội đồng cơ sở đã xét công nhận sáng kiến ngày...tháng... năm......(Nếu là báo cáo mô tả sáng kiến cấp Ngành thì phải điền phần này)
  Điện Biên, ngày 08 tháng 10 năm 2021
Tác giả sáng kiến
(Ký và ghi rõ họ tên)
 
 
 
Bùi Trọng Thắng

Những tin mới hơn

 

Liên kết

  • Đang truy cập: 155
  • Khách viếng thăm: 153
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 16293
  • Tháng hiện tại: 56160
  • Tổng lượt truy cập: 5133134
Hệ thống quản lý văn bản và điều hành
Email nội bộ ngành KSND