11:30 EST Thứ bảy, 15/12/2018
Chào mừng bạn đến với trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Điện Biên

TÀI LIỆU TẬP HUẤN BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015

Đăng lúc: Chủ nhật - 15/05/2016 21:00
TÀI LIỆU TẬP HUẤN BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
TÀI LIỆU TẬP HUẤN BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
­­­­­
 
 
 
 
 
 
 
TÀI LIỆU TẬP HUẤN
BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Hà Nội, tháng 5/2016
* Lãnh đạo VKSNDTC duyệt tài liệu:
Đ/c Trần Công Phàn, Phó Viện trưởng VKSNDTC
* Thành viên tham gia biên soạn tài liệu:
- Đ/c Nguyễn Duy Giảng, Vụ trưởng Vụ THQCT&KSĐT án kinh tế, VKSNDTC;
- Đ/c Nguyễn Tố Toàn, Vụ trưởng Vụ THQCT&KSĐT án an ninh, VKSNDTC;
- Đ/c Lê Thị Tuyết Hoa, Vụ trưởng Vụ THQCT&KSĐT án trật tự xã hội, VKSNDTC;
- Đ/c Nguyễn Minh Đức, Vụ trưởng Vụ THQCT&KSĐT án ma túy, VKSNDTC;
- Đ/c Trương Minh Mạnh, Phó Vụ trưởng Vụ THQCT&KSĐT án tham nhũng, chức vụ, VKSNDTC;
- Đ/c Tạ Quang Khải, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, VKSNDTC;
- Đ/c Lại Viết Quang, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, VKSNDTC;
- Đ/c Nguyễn Xuân Hà, Trưởng phòng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học, VKSNDTC.
* Đơn vị thẩm định tài liệu:
Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học, VKSNDTC
 
 

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
1. Bộ luật hình sự (BLHS) hiện hành được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21/12/1999 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật hình sự Việt Nam, phát huy thành tựu của BLHS năm 1985 (đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997). Sau hơn 14 năm thi hành, BLHS năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã có những tác động tích cực đối với công tác phòng, chống tội phạm, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân, thể hiện trên một số điểm lớn như sau:
Thứ nhất, từ khi được ban hành vào năm 1999, BLHS đã sớm đi vào cuộc sống và phát huy vai trò, tác dụng tích cực là công cụ sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Với những quy định tương đối có hệ thống, toàn diện về các nguyên tắc xử lý, chế định chung của chính sách hình sự, về tội phạm và hình phạt cũng như việc hình sự hóa khá nhiều hành vi nguy hiểm cao cho xã hội, BLHS một mặt đã thể hiện được tinh thần chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tội phạm, mặt khác tạo cơ sở pháp lý góp phần nâng cao hiệu quả điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, đặc biệt là các tội xâm phạm an ninh quốc gia; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; tội phạm về kinh tế, ma túy và tội phạm tham nhũng... qua đó góp phần kiểm soát và kìm chế tình hình tội phạm, bảo đảm ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Thứ hai, BLHS đã có nhiều quy định thể hiện tinh thần nhân đạo, chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, cụ thể như quy định về khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại đã gây ra; về các trường hợp loại trừ hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; về miễn trách nhiệm hình sự, miễn giảm hình phạt… Đặc biệt, BLHS đã quy định chặt chẽ hơn các điều kiện áp dụng hình phạt tử hình; mở rộng diện đối tượng không áp dụng, không thi hành hình phạt tử hình và thu hẹp các tội danh có quy định hình phạt tử hình. Các quy định này đã góp phần bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân, nâng cao vai trò giáo dục, cảm hóa đối với  người phạm tội, đồng thời giáo dục người dân ý thức tuân thủ pháp luật, chủ động phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ ba, BLHS có những quy định phù hợp với xu hướng chung của quốc tế, tạo tiền đề quan trọng cho việc tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là các tội phạm mang tính quốc tế, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như tội phạm về ma túy, mua bán người, rửa tiền, khủng bố, tài trợ khủng bố; các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ cao… qua đó, góp phần vào việc thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về hội nhập quốc tế.
2. Tuy nhiên, kể từ sau khi BLHS năm 1999 được ban hành, tình hình đất nước ta đã có những thay đổi to lớn về mọi mặt. Việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN mà nội dung cơ bản là ghi nhận và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật, chiến lược cải cách tư pháp và chủ động hội nhập quốc tế của Việt Nam đã mang lại những chuyển biến lớn, tích cực về kinh tế - xã hội và đối ngoại của đất nước. Bên cạnh đó, tình hình tội phạm nhìn chung vẫn diễn biến hết sức phức tạp với những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Số lượng tội phạm luôn có xu hướng gia tăng, nghiêm trọng hơn cả về quy mô và tính chất, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, môi trường. Điều này đã làm cho BLHS hiện hành trở nên bất cập không đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Mặc dù, năm 2009, Quốc hội khoá XII đã sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, nhưng do phạm vi sửa đổi chỉ giới hạn trong một số điều, nên chưa thể khắc phục được đầy đủ, toàn diện những bất cập của BLHS trong thực tiễn. Những bất cập, hạn chế của BLHS hiện hành được thể hiện ở một số điểm chủ yếu như sau:
Thứ nhất, nền kinh tế thị trường định hướng định hướng XHCN của nước ta đã có những bước phát triển quan trọng, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và đã mang lại những lợi ích to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó có vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm. Cùng với các luật khác trong hệ thống pháp luật nước ta, BLHS phải thể hiện đúng vai trò là công cụ hữu hiệu để bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, BLHS hiện hành nhìn chung vẫn là sản phẩm mang đậm dấu ấn của thời kỳ đầu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, do vậy, chưa thực sự phát huy tác dụng trong việc bảo vệ và thúc đẩy các nhân tố tích cực của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển một cách lành mạnh. Một số quy định của Bộ luật tỏ ra không còn phù hợp với điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường. Mặt khác, nhiều tội phạm mới phát sinh trong quá trình vận hành nền kinh tế chưa được kịp thời bổ sung hoặc tuy đã được bổ sung, nhưng chưa đầy đủ, toàn diện, nhất là các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mại, tài chính, ngân hàng, thuế, bảo hiểm, chứng khoán, tội phạm trong lĩnh vực môi trường,… Những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế cũng như hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và đòi hỏi cần phải tiếp tục hoàn thiện BLHS để góp phần bảo vệ và thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Thứ hai, do ban hành từ năm 1999, nên BLHS chưa thể chế hoá được những quan điểm, chủ trương mới của Đảng về cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới (Nghị quyết số 08/NQ-TW); Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (Nghị quyết số 48/NQ-TW) và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (Nghị quyết số 49/NQ-TW). Trong các nghị quyết này Đảng ta chỉ rõ cần phải “coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hương chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối đa quá cao trong một số loại tội phạm. Khắc phục tình trạng hình sự hóa quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự và bỏ lọt tội phạm. Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế”. Đồng thời, “xử lý nghiêm khắc hơn đối với những tội phạm là người có thẩm quyền trong thực thi pháp luật, những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội. Người có chức vụ càng cao mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội thì càng phải xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác”. Đây là những quan điểm mới của Đảng và Nhà nước ta về chính sách hình sự mà BLHS cần phải được thể chế hóa một cách đầy đủ.
Đặc biệt, sự phát triển của Hiến pháp năm 2013 về việc ghi nhận và đảm bảo thực hiện tốt hơn các quyền con người, quyền công dân đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới, hoàn thiện cả hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật hình sự với tính cách là công cụ pháp lý quan trọng và sắc bén nhất trong việc bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Theo đó, một mặt, BLHS cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng bảo đảm xử lý nghiêm các hành vi xâm hại các quyền con người, quyền cơ bản của công dân; mặt khác cần nghiên cứu, đề xuất sửa đổi theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội; tạo điều kiện thuận lợi để người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng. Thực tiễn cho thấy, vẫn còn tình trạng quyền con người, quyền cơ bản của công dân, nhất là đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội vẫn chưa được tôn trọng một cách đầy đủ, toàn diện. Nhìn chung, người dân chưa thực sự cảm thấy an toàn về môi trường sống, vẫn còn xảy ra những vụ giết người, cướp của tàn bạo gây chấn động trong dư luận và gây tâm lý hoang mang trong một bộ phận nhân dân; người dân chưa thực sự yên tâm phát huy tính sáng tạo trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tích cực, chủ động tham gia phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật. Tình trạng ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, mất an toàn trong lao động, trong xây dựng, trong khi tham gia giao thông đã đến mức báo động. Đối với người bị kết án thì việc xóa án tích, nhất là đương nhiên được xóa án tích hiện nay rất phức tạp, thủ tục rườm rà chưa tạo điều kiện thuận lợi cho họ tái hòa nhập cộng đồng. Vì vậy, BLHS phải được tiếp tục hoàn thiện để góp phần tạo ra một khung pháp lý đủ mạnh nhằm bảo vệ một môi trường sống an lành cho người dân; bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; động viên khuyến khích mọi tầng lớp nhân dân yên tâm tham đấu tranh phòng, chống tội phạm, phát triển kinh tế, sáng tạo khoa học.
Thứ ba, BLHS hiện hành chưa cập nhật được đầy đủ, kịp thời các hành vi vi phạm có tính chất phổ biến, nguy hiểm cao cho xã hội để có biện pháp xử lý hình sự thích đáng. Điển hình có thể kể tới các hành vi lạm dụng lao động trẻ em; chiếm đoạt, mua bán trái phép mô tạng, các bộ phận cơ thể người; vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ; lợi dụng bán hàng đa cấp để chiếm đoạt tiền, tài sản; các vi phạm trong các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, môi trường, công nghệ cao. Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Thứ tư, BLHS hiện hành được ban hành từ năm 1999 trong bối cảnh nước ta chưa hội nhập sâu vào thế giới, nhiều điều ước quốc tế chúng ta chưa có điều kiện gia nhập, do vậy, chưa phản ánh được những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện hội nhập quốc tế, chưa tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, thuận lợi cho việc hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Ngày nay, xu thế chủ động hội nhập quốc tế đã trở thành nhu cầu nội tại của Việt Nam. Trên thực tế, nước ta đã tham gia nhiều tổ chức quốc tế, tổ chức khu vực và đã trở thành thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương, trong đó có các công ước về phòng chống tội phạm. Bên cạnh đó, cùng với quá trình hội nhập quốc tế, nước ta cũng đang phải đối mặt với sự gia tăng của các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, các tội phạm do người nước ngoài thực hiện. Điều này, đòi hỏi phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung BLHS để nội luật hóa các quy định về hình sự trong các điều ước quốc tế mà nước ta là thành viên nhằm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của quốc gia thành viên và tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia.
Ngoài ra, BLHS hiện hành cũng còn nhiều bất cập về mặt kỹ thuật lập pháp liên quan đến sự thống nhất giữa Phần chung và Phần các tội phạm; các dấu hiệu định tội, định khung của nhiều tội danh; các tội ghép; cách thiết kế khung hình phạt cũng như khoảng cách khung hình phạt của một số tội danh; chưa có sự nhất quán trong cách phân chia các chương tội phạm... Những bất cập này cũng ảnh hưởng lớn đến việc hướng dẫn thi hành và áp dụng các quy định của BLHS trên thực tế.
Những hạn chế, bất cập nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu lực và hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm; chưa thực sự tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước cũng như cho việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền của người dân. Do đó, việc xây dựng , ban hành BLHS mới nhằm thay thế BLHS năm 1999  là hoàn toàn đúng đắn và hết sức cần thiết.
Ngày 27/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII đã thông qua BLHS số 100/2015/QH13 năm 2015 cùng Nghị quyết thi hành Bộ luật số 109/2015/QH13. Ngày 18/12/2015, Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 33/2015/L-CTN công bố Bộ luật và Nghị quyết này.
Với tinh thần sửa đổi toàn diện, BLHS 2015 gồm có 26 chương với 426 điều, được thiết kế thành 03 phần, Phần thứ nhất: Những quy định chung (gồm 12 chương, từ Điều 01 đến Điều 107); Phần thứ hai: Các tội phạm (gồm 14 chương, từ Điều 108 đến Điều 425); và Phần thứ ba: Điều khoản thi hành (gồm 01 điều - Điều 426).
 
II. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG BLHS NĂM 2015
PHẦN THỨ NHẤT. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
CHƯƠNG I.  ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN
Chương đầu tiên của Bộ luật hình sự (BLHS) gồm 04 điều từ Điều 1 đến Điều 4, quy định về nhiệm vụ của Bộ luật, cơ sở của trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xử lý và trách nhiệm phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
1. Nhiệm vụ của BLHS (Điều 1)
Điều 1 của BLHS năm 2015 xác định BLHS có 05 nhiệm vụ chủ yếu: một là, bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước; hai là, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc; ba là, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức; bốn là, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; năm là, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.
Về cơ bản BLHS năm 2015 tiếp tục kế thừa các nhiệm vụ đã được ghi nhận trong BLHS năm 1999. Tuy nhiên, có hai điểm quan trọng cần lưu ý trong quy định này:
Một là, BLHS năm 2015 đã nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước và đưa lên thành nhiệm vụ đầu tiên của BLHS.
Hai là, nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân được BLHS năm 2015 đề cao và đưa lên ngay sau nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều này thể hiện rõ tinh thần, quan điểm đề cao việc bảo vệ các quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
2. Cơ sở của trách nhiệm hình sự (Điều 2)
Một trong những điểm mới nổi bật, mang tính đột phá trong thực hiện chính sách hình sự nước ta là BLHS năm 2015 đã bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại. Điều này dẫn đến sửa đổi, bổ sung nhiều quy định có liên quan trong BLHS, trong đó gồm quy định về cơ sở của trách nhiệm hình sự và nguyên tắc xử lý về hình sự.
Về cơ sở trách nhiệm hình sự, Điều 2 của Bộ luật khẳng định rõ 02 vấn đề hết sức quan trọng:
Một là, không chỉ có cá nhân mà pháp nhân thương mại cũng phải chịu trách nhiệm hình sự;
Hai là, chỉ có pháp nhân thương mại[1] đã thực hiện tội phạm theo quy định tại Điều 76 của BLHS mới phải chịu trách nhiệm hình sự về 31 tội danh, trong đó có 22 tội thuộc nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và 09 tội thuộc nhóm các tội phạm về môi trường.
3. Về nguyên tắc xử lý (Điều 3)
Điều luật thiết kế thành 02 khoản: khoản 1 quy định về nguyên tắc xử lý đối với cá nhân phạm tội; khoản 2 quy định nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Cụ thể:
Thứ nhất, khoản 1 kế thừa 05 nguyên tắc xử lý hình sự đối với cá nhân phạm tội của BLHS năm 1999, đồng thời, bổ sung hai điểm mới đáng lưu ý sau đây:
Một là, bổ sung thêm đối tượng được hưởng khoan hồng, đó là người phạm tội đầu thú (điểm d) nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, khuyến khích người phạm tội hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng;
Hai là, bổ sung quy định việc áp dụng chính sách tha tù trước hạn có điều kiện đối với người bị phạt tù khi họ có đủ điều kiện do luật định.
Thứ hai, bổ sung mới khoản 2 quy định về 04 nguyên tắc xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội, đó là:
- Mọi hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại thực hiện phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật. Nguyên tắc này bảo đảm tính pháp chế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
- Mọi pháp nhân thương mại phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế. Nguyên tắc này thể hiện quan điểm bình đẳng trong việc xử lý các pháp nhân phạm tội thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, bảo đảm không có loại trừ, vùng cấm đối với các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước khi phạm tội.
- Nghiêm trị pháp nhân thương mại phạm tội dùng thủ đoạn tinh vi, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
- Khoan hồng đối với pháp nhân thương mại tích cực hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra, chủ động ngăn chặn hoặc khắc phục hậu quả xảy ra.
 
CHƯƠNG II. HIỆU LỰC CỦA BLHS
Ngoài việc kế thừa các quy định về hiệu lực của BLHS năm 1999, Chương này còn bổ sung nhiều nội dung mới thể hiện chủ quyền tài phán của nước ta trên tinh thần tích cực, chủ động, phản ánh vai trò, vị trí của nước ta trên trường quốc tế cũng như quá trình hội nhập của nước ta. Chương này gồm 03 điều (từ Điều 5 đến Điều 7) với các nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
Điều 5. Hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Điều này có hai điểm mới rất quan trọng đáng chú ý:
Thứ nhất, ngoài việc kế thừa quy định tại Điều 5 của BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định: “BLHS cũng được áp dụng đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”.
Điều này có nghĩa là hành vi phạm tội được thực hiện hoặc hậu quả của nó xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam mà tàu bay, tàu biển đó đang ở ngoài lãnh thổ Việt Nam thì cũng được coi là thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam và người phạm tội bị xử lý theo quy định của BLHS này.
Tương tự như vậy, hành vi phạm tội được thực hiện tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam hoặc ở nơi khác nhưng hậu quả xảy ra tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam thì cũng bị xử lý theo BLHS này.
Thứ hai, đối với vấn đề trách nhiệm hình sự của người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế thì BLHS năm 1999 quy định trong mọi trường hợp sẽ được giải quyết bằng con đường ngoại giao. Tuy nhiên, BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định này theo hướng trước hết vấn đề trách nhiệm hình sự của những người này phải được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó vì hiện nay chúng ta đã là thành viên của nhiều điều ước quốc tế đa phương và song phương; chỉ trong trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế về vấn đề đó thì mới giải quyết bằng con đường ngoại giao (thương lượng giải quyết theo từng vụ việc, từng trường hợp cụ thể).
Điều 6. Hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Điều này có ba điểm mới quan trọng đáng chú ý:
Một là, bổ sung quy định về hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại Việt Nam thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam;
Hai là, theo quy định của BLHS năm 1999 thì người nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS Việt Nam trong trường hợp được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
BLHS năm 2015 tiếp tục kế thừa tinh thần quy định này của BLHS năm 1999, đồng thời, bổ sung hai trường hợp có thể áp dụng BLHS Việt Nam để xử lý đối với hành vi phạm tội do người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài thực hiện ở ngoài lãnh thổ Việt Nam. Đó là: (1) khi hành vi phạm tội đó xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam; (2) khi hành vi phạm tội đó xâm hại đến lợi ích của Nhà nước Việt Nam. Quy định này thể hiện quan điểm tăng cường bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ công dân của mình trong quan hệ quốc tế. Đồng thời, tạo cơ sở pháp lý cho việc hợp tác về dẫn độ tội phạm.
Ba là, bổ sung quy định hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định. Quy định này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để chúng ta thực hiện nghĩa vụ quốc gia thành viên trong các điều ước quốc tế đa phương, tham gia tích cực hơn trong hợp tác quốc tế để xử lý tội phạm, đặc biệt là các tội cướp biển, bắt cóc con tin mới được bổ sung vào BLHS năm 2015.
Điều 7. Hiệu lực của BLHS về thời gian
Về cơ bản, các quy định này vẫn tiếp tục kế thừa quy định tại Điều 7 của BLHS năm 1999, chỉ bổ sung một số điểm cụ thể liên quan đến một số quy định mới của BLHS như: (1) điều luật hạn chế phạm vi áp dụng chế định loại trừ trách nhiệm hình sự thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành (khoản 2); (2) điều luật mở rộng phạm vi áp dụng chế định loại trừ trách nhiệm hình sự, tha tù trước thời hạn có điều kiện thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành (khoản 3).
Liên quan đến hiệu lực của BLHS năm 2015 về thời gian, Nghị quyết số 109/2015/QH13 của Quốc hội về việc thi hành BLHS, đã xác định rõ hai mốc thời gian áp dụng các quy định của Bộ luật, cụ thể là:
Thứ nhất, kể từ ngày BLHS được công bố (ngày 09/12/2015):
- Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình cũng như không áp dụng hình phạt tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử; trường hợp đã tuyên hình phạt tử hình đối với họ nhưng chưa thi hành án, thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân.
Đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của BLHS năm 2015 (người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất 3/4 tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn), thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân.
- Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà BLHS năm 1999 quy định là tội phạm nhưng BLHS năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính. Nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;
- Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và các điểm b, c khoản 2 Điều 14 của BLHS năm 2015; nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trong trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;
- Những người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo quy định trên thì đương nhiên được xóa án tích.
Thứ hai, kể từ ngày BLHS có hiệu lực thi hành (ngày 01/07/2016):
- Tất cả các điều khoản của BLHS năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01/7/2016.
- Các quy định sau đây có hiệu lực trở về trước: (1) quy định xóa bỏ một tội phạm, xóa bỏ một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; (2) quy định mở rộng phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích; (3) quy định khác có lợi cho người phạm tội (ví dụ trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự). Theo đó, các quy định này được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích.
- Các quy định sau đây không có hiệu lực trở về trước: (1) quy định về tội phạm mới tại các điều 147, 154, 167, 187, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 218, 219, 220, 221, 222, 223, 224, 230, 234, 238, 285, 291, 292, 293, 294, 297, 301, 302, 336, 348, 388, 391, 393 và 418 của BLHS năm 2015; (2) quy định bổ sung hành vi phạm tội mới, quy định một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; (3) quy định hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích; (4) quy định khác không có lợi cho người phạm tội. Theo đó, các quy định này không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 để giải quyết.
- Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016, thì không được căn cứ vào những quy định của BLHS năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01/7/2016, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo các quy định trên đây về các trường hợp có hiệu lực hồi tố hoặc không có hiệu lực hồi tố.
Quy định về những trường hợp có hoặc không có hiệu lực trở về trước trên đây cũng  được áp dụng đối với các điều luật mới quy định tội được tách ra từ các tội ghép trong BLHS năm 1999.
- Các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”; “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”; “thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”; “đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”; “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”; “quy mô lớn” đã được áp dụng để khởi tố bị can trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 thì vẫn áp dụng quy định của BLHS năm 1999 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
- Đối với 04 hành vi phạm tội theo BLHS năm 1999 (hoạt động phỉ - Điều 83; đăng ký kết hôn trái pháp luật - Điều 149; kinh doanh trái phép - Điều 159; cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng - Điều 165), mặc dù, trong BLHS năm 2015 không còn tên các tội danh này nhưng đây không phải là đã phi tội phạm hóa đối với các hành vi phạm tội này, do vậy, quy định này không có hiệu lực trở về trước. Đối với các hành vi này xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của BLHS năm 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định của Tòa án, thì không được căn cứ vào việc BLHS năm 2015 không quy định các tội danh này để kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về các tội này đã chấp hành xong bản án thì vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 để giải quyết; nếu sau thời điểm 0 giờ 00 ngày 01/7/2016 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về các tội danh này mà áp dụng quy định của BLHS năm 2015 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo tội danh tương ứng;
- Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245 và 246 của BLHS năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi vi phạm của pháp nhân thương mại xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01/7/2016.
 
CHƯƠNG III. TỘI PHẠM
Chương III của BLHS năm 2015 có 12 điều (từ Điều 8 đến Điều 19) quy định về chế định tội phạm, bao gồm: khái niệm tội phạm; phân loại tội phạm; cố ý phạm tội; vô ý phạm tội; tuổi chịu trách nhiệm hình sự; phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác; chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội; đồng phạm; che giấu tội phạm; không tố giác tội phạm. So với BLHS năm 1999, có 04 điều được giữ nguyên (Điều 9. Cố ý phạm tội; Điều 10. Vô ý phạm tội; Điều 15. Phạm tội chưa đạt và Điều 16. Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội); 01 điều được bổ sung mới (Điều 9) về phân loại tội phạm (tách khoản 2 Điều 8 của BLHS 1999) và 07 điều được sửa đổi.
Điều 8. Khái niệm tội phạm
Về cơ bản, Khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 đã kế thừa khái niệm tội phạm quy định tại Điều 8 của BLHS năm 1999, tuy nhiên, bổ sung mới hai nội dung liên quan đến chủ thể tội phạm và khách thể mà tội phạm xâm hại, cụ thể: (1) bổ sung chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại; (2) xác định rõ một trong những khách thể mà tội phạm xâm hại là “quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân” nhằm thể hiện tinh thần của Hiến pháp 2013 là đề cao và bảo vệ hơn nữa quyền con người, quyền công dân.
Điều 9. Phân loại tội phạm
Điều 9 của BLHS năm 2015 quy định về vấn đề phân loại tội phạm trên cơ sở tách Khoản 2 Điều 8 của BLHS năm 1999 và cơ bản vẫn giữ nguyên cách phân loại tội phạm dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhằm thực hiện nguyên tắc phân hoá và cá thể hoá trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, so với BLHS năm 1999 thì có sự khác biệt trong cách quy định về mức cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội.
 Một là, để góp phần khắc phục bất cập, đồng thời tăng tính rõ ràng, minh bạch, Điều 9 đã quy định rõ điểm bắt đầu để xác định mức cao nhất của khung hình phạt đối với mỗi loại tội làm cơ sở để xác định loại tội phạm, theo đó:
- Tội ít nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tiền hoặc phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;
- Tội nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 03 năm đến 07 năm tù (ví dụ: 5, 6 hoặc 7 năm tù);
- Tội rất nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 07 năm đến 15 năm tù (ví dụ: 10, 12 hoặc 15 năm tù).
- Tội đặc biệt nghiêm trọng là tội có mức cao nhất của khung hình phạt nằm trong khoảng từ trên 15 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân hoặc tử hình.
Quy định này phân định rõ ranh giới giữa các loại tội, đồng thời, phù hợp với cách quy định các khung hình phạt trong từng tội danh trong BLHS.
Hai là, đối với tội ít nghiêm trọng, ngoài căn cứ vào mức cao nhất của khung hình phạt là phạt tù không quá ba (03) năm thì đối với các khung hình phạt chỉ có quy định hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền cũng được coi là tội phạm ít nghiêm trọng. Như vậy, đối với tội phạm mà có khung hình phạt cao nhất là phạt tiền hoặc phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm thì đó là tội phạm ít nghiêm trọng.
Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Điều luật này có hai điểm mới quan trọng:
Thứ nhất, khoản 1 của Điều luật bên cạnh việc tiếp tục kế thừa quy định của BLHS năm 1999: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, đã bổ sung quy định loại trừ: trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác (tức là tội phạm có chủ thể đặc biệt) để bảo đảm tính thống nhất giữa quy định của phần chung và quy định trong phần các tội phạm cụ thể.
Thứ hai, khoản 2 của Điều luật đã thu hẹp đáng kể phạm vi trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, chỉ rõ những tội danh mà các em phải chịu trách nhiệm hình sự. Quy định này thể hiện chính sách hướng thiện, bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các em trên tinh thần bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên, đồng thời, góp phần nâng cao tính minh bạch của BLHS, qua đó nâng cao tính giáo dục, phòng ngừa tội phạm đối với các em ở độ tuổi này.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về 29 tội danh được nêu tại khoản 2 của Điều luật[2], trong đó, các em phải chịu trách nhiệm hình sự khi phạm tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc 26 tội danh, còn đối với 03 tội danh khác (cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hiếp dâm; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản) thì các em phải chịu trách nhiệm hình sự kể cả trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng. Như vậy, riêng đối với 03 tội danh này thì phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có mở rộng hơn so với BLHS năm 1999 nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm người chưa thành niên.
Điều 13. Phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác
Về cơ bản, quy định này vẫn kế thừa quy định tại Điều 14 của BLHS năm 1999, nhưng có hai điểm mới cần chú ý:
Một là, thay cụm từ rất chung chung trong BLHS năm 1999 “phạm tội trong tình trạng say” bằng các dấu hiệu cụ thể, mang đặc điểm pháp lý, đó là “phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”.
Hai là, bổ sung trường hợp phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi do “dùng bia”, bảo đảm phù hợp với thực tiễn.
Điều 14. Chuẩn bị phạm tội
Về cơ bản, quy định tại khoản 1 Điều 14 của BLHS năm 2015 kế thừa quy định tại Điều 17 của BLHS năm 1999 về chuẩn bị phạm tội, nhưng có ba điểm mới rất quan trọng:
Thứ nhất, mở rộng nội hàm khái niệm “chuẩn bị phạm tội” bao gồm cả hành vi thành lập, tham gia nhóm tội phạm; đồng thời bổ sung quy định loại trừ đối với các trường hợp mà hành vi chuẩn bị phạm tội cấu thành một tội phạm cụ thể quy định tại Điều 109 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân), điểm a khoản 2 Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân) và điểm a khoản 2 Điều 299 (tội khủng bố) của BLHS.
Thứ hai, thu hẹp đáng kể phạm vi xử lý hình sự đối với người có hành vi chuẩn bị phạm tội, quy định rõ 24 tội danh thuộc 04 nhóm tội phạm (các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người; các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm an toàn công cộng)[3] người có hành vi chuẩn bị phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự. Đây là một điểm mới của chế định chuẩn bị phạm tội trong Bộ luật. Trên cơ sở quy định này, lần đầu tiên, BLHS năm 2015 đã quy định một khung hình phạt riêng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội ngay trong từng điều luật quy định về các tội danh cụ thể.
Thứ ba, khoản 3 quy định riêng đối với người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chỉ phải trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 04 tội danh: (1) giết người; (2) cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; (3) cướp tài sản; (4) bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Bởi đây là những tội đặc biệt nguy hiểm, có tính bạo lực cao, xâm hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của con người, cần được quy định để phòng ngừa, xử lý, ngăn chặn sớm trước khi có thể xảy ra trên thực tế.
Điều 17. Đồng phạm
Về cơ bản, Điều luật kế thừa hoàn toàn quy định về đồng phạm tại Điều 20 của BLHS 1999, đồng thời, bổ sung quy định mới “Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành” (khoản 4).
Người đồng phạm bao gồm: người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức và người thực hành. Trong đó, Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Trong một vụ án có đồng phạm, người tổ chức và người thực hành thường có sự bàn bạc, phân công vai trò thực hiện các hành vi phạm tội. Tuy nhiên, trong thực tiễn cho thấy, đôi khi người thực hành lại có hành vi vượt quá, không thực hiện đúng như những gì đã bàn với đồng phạm trước đó. Nếu buộc những người đồng phạm còn lại phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá này thì có nghĩa buộc họ phải chịu trách nhiệm về những cái mà họ không biết, không có lỗi. Vì vậy, để bảo đảm việc xử lý đúng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, vai trò của đồng phạm trong vụ án, BLHS năm 2015 quy định trong trường hợp này phải loại trừ trách nhiệm cho đồng phạm.
Điều 18. Che giấu tội phạm
Điểm mới của điều luật này là đã bổ sung thêm khoản 2 quy định về việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của BLHS.
Về nguyên tắc: ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng mà che giấu tội phạm cho nhau thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp tội đã phạm là một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của BLHS thì những người này mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Quy định mới này hết sức nhân đạo, thể hiện rõ tính nhân văn, phù hợp truyền thống đạo lý gia đình của người Việt Nam, bởi thông thường những người thân trong gia đình luôn có tình cảm, có tâm lý giấu diếm, bao che hành vi sai phạm của những người ruột thịt, người vợ, người chồng của mình, không muốn người thân của mình phải rơi vào vòng lao lý.
Điều 19. Không tố giác tội phạm
Bên cạnh việc tiếp tục kế thừa quy định của BLHS năm 1999 về không tố giác tội phạm, khoản 3 Điều 19 của BLHS năm 2015 bổ sung quy định về trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người bào chữa trong trường hợp không tố giác tội phạm. Về nguyên tắc, người bào chữa không phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác tội phạm do chính người mà mình bào chữa đã thực hiện hoặc đã tham gia thực hiện mà mình biết được khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa; trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia quy định tại Chương XIII hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của BLHS.
Quy định này phù hợp Quy tắc mẫu đạo đức nghề nghiệp luật sư và cũng trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm nước ngoài. Việc bổ sung quy định này không chỉ bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, đồng thời, phù hợp với Tuyên bố các nguyên tắc cơ bản về vai trò của Luật sư năm 1999 được thông qua tại Hội nghị lần thứ 8 về phòng chống tội phạm và xử lý người phạm tội của Liên Hợp Quốc tại La Habana, Cuba[4] mà Việt Nam đã tham gia.
 
CHƯƠNG IV. NHỮNG TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Chương IV. Những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự gồm có 07 điều (từ Điều 20 đến Điều 26) quy định về các vấn đề: (1) sự kiện bất ngờ (Điều 20); (2) tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự (Điều 21); (3) phòng vệ chính đáng (Điều 22); (4) tình thế cấp thiết (Điều 23); (5) gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội (Điều 24); (6) rủi ro trong nghiên cứu, thí nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ (Điều 25); (7) thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (Điều 26). Trong đó, bổ sung quy định 03 trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mới và sửa đổi một số nội dung đối với các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mà BLHS năm 1999 đã quy định.
 Thứ nhất, về trường hợp phòng vệ chính đáng (Điều 22) và tình thế cấp thiết (Điều 23) có đảo cụm từ “vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác” lên trước cụm từ “lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức” trong trường hợp phòng vệ chính đáng. Cũng tương tự như trên, cụm từ “vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của người khác” lên trước cụm từ “lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức” trong trường hợp tình thế cấp thiết. Việc đảo vị trí của quyền hoặc lợi ích chính đáng (quyền hoặc lợi ích hợp pháp) của con người, của công dân lên trước lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức là phù hợp với tinh thần Hiến pháp năm 2013, ưu tiên bảo vệ quyền con người, quyền công dân – “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ,  bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14 Hiến pháp).
Thứ hai, ba trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự mới được bổ sung vào Chương này đó là: (1) gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội; (2) rủi ro trong nghiên cứu khoa học, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ; (3) thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên (các Điều 24, 25, 26).
Điều 24. Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội
Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm cho thấy, mặc dù các cơ quan chức năng có nhiều cố gắng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, kiềm chế sự gia tăng của tội phạm, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, song tình hình tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, có nơi, có lúc xảy ra rất nghiêm trọng. Một trong những nguyên nhân của tình trạng tội phạm và vi phạm pháp luật gia tăng hiện nay là do ý thức pháp luật và đấu tranh phòng, chống tội phạm của quần chúng nhân dân còn chưa cao, chưa tạo được phong trào quần chúng đấu tranh chống tội phạm sâu rộng trong xã hội[5]. Những hạn chế, vướng mắc trong đấu tranh phòng, chống tội phạm chính là thiếu cơ chế động viên, tạo điều kiện về mặt pháp lý để công nhận thực hiện nghĩa vụ của mình được pháp luật quy định. Điều 4 của BLHS năm 1999 quy định: “Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”. Do đó, một trong những quan điểm chỉ đạo xây dựng BLHS đã được xác định đó là “tạo cơ chế hữu hiệu để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, lợi ích của nhà nước và tổ chức, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội”, “bổ sung những quy định mới để giải quyết vướng mắc, bấp cập đang đặt ra trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và đổi mới nhận thức về chính sách hình sự… bảo đảm các quy định của BLHS không chỉ là cơ sở pháp lý để các cơ quan chức năng đấu tranh trấn áp tội phạm mà còn là cơ sở pháp lý để mọi người dân tự bảo vệ mình, bảo vệ lợi ích của nhà nước, của xã hội, khuyến khích mọi người dân chủ động, tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm”[6].
Thực tế cho thấy có nhiều trường hợp để bắt giữ tội phạm thì người bắt giữ buộc phải dùng vũ lực cần thiết để khống chế và tất yếu dẫn đến gây thiệt hại cho người bị bắt giữ. Tuy nhiên, BLHS năm 1999 chưa có quy định cụ thể loại trừ trách nhiệm hình sự trong các trường hợp này, chưa tạo được cơ chế hữu hiệu, tích cực cho việc đấu tranh ngăn chặn và chống tội phạm. Để giải quyết vấn đề này, tạo điều kiện cho người, cơ quan có trách nhiệm đấu tranh trấn áp tội phạm cũng như mọi người dân yên tâm khi thực hiện nghĩa vụ tham gia chống tội phạm, BLHS đã bổ sung mới chế định gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội, trong đó quy định rõ: hành vi của người để bắt giữ người thực hiện hành vi phạm tội mà không còn cách nào khác là buộc phải sử dụng vũ lực cần thiết gây thiệt hại cho người bị bắt giữ thì không phải là tội phạm. Đồng thời quy định rõ: Trường hợp gây thiệt hại do sử dụng vũ lực rõ ràng vượt quá mức cần thiết, thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm hình sự, bảo đảm loại trừ và xử lý hình sự đúng đắn, chính xác các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội. Việc bổ sung quy định như vậy là hợp lý, phù hợp với tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Điều 25. Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ
Một trong những định hướng lớn được quán triệt trong xây dựng BLHS 2015 đó là tạo các quy phạm pháp lý hình sự góp phần bảo vệ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển, mà muốn vậy thì việc áp dụng các thành tựu khoa học, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến có vai trò rất quan trọng. Mặt khác, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi sự năng động, sáng tạo trong sản xuất, trong nghiên cứu, thử nghiệm, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích của xã hội. Trong quá trình đó sẽ không tránh khỏi những trường hợp rủi ro gây thiệt hại về người và tài sản và trên thực tế đã xảy ra không ít trường hợp rủi ro như vậy, ví dụ: với tinh thần dám nghĩ, dám làm, phát huy tính năng động, sáng tạo, tập thể kỹ sư nhà máy xi măng đã quyết định áp dụng công nghệ lò ngang thay cho lò đứng, vì lò ngang có nhiều ưu điểm hơn năng suất cao, tiết kiệm năng lượng tiêu hao… Trong quá trình tiến hành đã cập nhập kiến thức và công nghệ tiên tiến, vận hành thử nhiều lần và nhận được kết quả tốt. Tuy nhiên, khi đưa vào vận hành chính thức thì sự cố đã xảy ra, lò nổ, gây thiệt hại về người và tài sản. Sau khi sự cố xảy ra, cũng có người ủng hộ việc làm này, song cũng có người phản đối, thậm chí đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Việc BLHS năm 2015 bổ sung quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với trường hợp rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế tri thức, thúc đẩy nền kinh tế thị trường phát triển. Quy định này là bảo đảm chắc chắn cho những ý tưởng mới, sáng tạo, cải tiến kỹ thuật và công nghệ, động viên các nhà khoa học nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học, kỹ thuật tiên tiến vì sự phồn vinh của đất nước.
Theo quy định tại Điều 25 thì hành vi gây thiệt hại trong khi thực hiện việc nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ chỉ được coi là rủi ro và người gây ra rủi ro đó không phải chịu trách nhiệm hình sự nếu đã tuân thủ đúng quy trình, quy phạm và đã áp dụng đầy đủ các biện pháp đề phòng. Đồng thời quy định rõ trường hợp không áp dụng đúng quy trình, quy phạm, không áp dụng đầy đủ các biện pháp phòng ngừa hậu quả có thể xảy ra, gây thiệt hại cho xã hội thì người thực hiện hành vi này vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự, nhằm ngăn chặn những việc làm bừa, làm ẩu nhưng viện lý do nghiên cứu khoa học, thử nghiệm… để trốn tránh trách nhiệm.
Điều 26. Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên
Điều 26 BLHS quy định: Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh nếu đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này người ra mệnh lệnh phải chịu trách nhiệm hình sự”.
Theo quy định này thì người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong khi thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên không phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ ba điều kiện sau đây:
Một là, mệnh lệnh phải là của người chỉ huy hoặc của cấp trên trong lực lượng vũ trang nhân dân (quân đội nhân dân và công an nhân dân). Nguyên tắc đặc thù trong lực lượng vũ trang nhân dân là “quân lệnh như sơn”, cấp dưới phải phục tùng cấp trên. Điều 26 Luật Sỹ quan quân đội nhân dân Việt Nam năm 1999 quy định về nghĩa vụ của sỹ quan là phải tuyệt đối phục tùng tổ chức, phục tùng chỉ huy, nghiêm chỉnh chấp hành điều lệnh, điều lệ… Điều 30 của Luật Công an nhân dân năm 2014 quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ công an nhân dân là phải nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh Công an nhân dân, chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên.
Hai là, việc thi hành mệnh lệnh đó là để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh. Trong quá trình soạn thảo cũng có ý kiến đề nghị đưa thêm cả nhiệm vụ phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, nếu mở như vậy thì quá rộng, dễ bị lạm dụng, gây ảnh hưởng đến quyền con người, quyền công dân, nhất là trong thực tiễn thực hiện các hoạt động tư pháp, như: viện cớ thi hành mệnh lệnh của cấp trên mà thực hiện hành vi bức cung, nhục hình nghi can để lấy lời khai... do vậy, việc mở rộng hơn đã không được chấp thuận. Trên tinh thần đó, Điều 26 đã giới hạn chỉ trong phạm vi thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Ba là, người thi hành mệnh lệnh đã thực hiện đầy đủ quy trình báo cáo người ra mệnh lệnh nhưng người ra mệnh lệnh vẫn yêu cầu chấp hành mệnh lệnh đó.
Đồng thời, Điều 26 cũng quy định không loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người chấp hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên trong lực lực vũ trang nhân dân mà phạm tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược (khoản 2 Điều 421); tội chống loài người (khoản 2 Điều 422) và tội phạm chiến tranh (khoản 2 Điều 423).
 
CHƯƠNG V. THỜI HIỆU TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ, MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
Chương V gồm có 3 điều quy định về hai vấn đề: một là, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (các điều 27, 28); hai là, căn cứ miễn trách nhiệm hình sự (Điều 29).
Nhìn chung, các quy định ở Chương này vẫn trên cơ sở kế thừa quy định của BLHS năm 1999. Điểm mới của Chương này là mở rộng thêm trường hợp không áp dụng thời hiệu và trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời, có một số chỉnh sửa khác về kỹ thuật theo hướng rõ ràng hơn, chặt chẽ hơn, cụ thể như sau:
Điều 27. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
So với Điều 23 của BLHS năm 1999 thì Điều 27 của BLHS năm 2015 có hai điểm sửa đổi mang tính kỹ thuật, đó là:
Thứ nhất, Khoản 3 thay thế cụm từ “tự thú” bằng từ “đầu thú” để đảm bảo tính chính xác của Điều luật: Trường hợp người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời hiệu được tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ (tội phạm đã bị phát hiện và người phạm tội nhận thấy không thể trốn tránh nên đã tự đến cơ quan có thẩm quyền trình diện).
Thứ hai, loại bỏ cụm từ “thời gian trốn tránh không được tính” trong quy định tại khoản 3 Điều 23 của BLHS năm 1999 “người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu được tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ” thành quy định người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có quyết định truy nã, thì thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra đầu thú hoặc bị bắt giữ” (khoản 3 Điều 27 BLHS năm 2015).
Điều 28. Không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
Ngoài việc tiếp tục kế thừa các trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 24 của BLHS năm 1999 (đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và đối với các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh), Điều luật bổ sung trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ thuộc trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại khoản 3 và khoản 4 các điều 353, 354 của BLHS.
Việc bổ sung quy định này nhằm góp phần tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý triệt để đối với các hành vi tham ô tài sản, nhận hối lộ thuộc các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Điều 29. Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự
So với Điều 25 của BLHS năm 1999 thì Điều 29 của BLHS năm 2015 có những thay đổi như sau:
Thứ nhất, tên điều luật được quy định rõ là "Căn cứ miễn trách nhiệm hình sự" nhằm phù hợp và phản ánh rõ nội dung của điều luật.
Thứ hai, điều luật phân định rõ hai loại căn cứ miễn trách nhiệm hình sự: (1) căn cứ để đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 1); 2) căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự (các khoản 2, 3).
Cần lưu ý là theo khoản 1 Điều 25 của BLHS năm 1999 thì trường hợp "do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa" là một trong những căn cứ để đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự, nhưng theo BLHS năm 2015 thì trường hợp này được chuyển thành căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự (điểm a khoản 2 Điều 29), tức là trong trường hợp này, cơ quan tiến hành tố tụng cần cân nhắc, xem xét thận trọng, đánh giá khách quan, chính xác từng trường hợp cụ thể để quyết định miễn hay không miễn trách nhiệm hình sự cho bị can, bị cáo.
Thứ ba, khoản 1 Điều 25 của BLHS năm 1999 quy định “Người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Điều 29 của BLHS năm 2015 đã kế thừa quy định này nhưng thể hiện lại rõ hơn theo hướng cụ thể hóa khái niệm “do chuyển biến của tình hình” bằng khái niệm “do có sự thay đổi chính sách, pháp luật”, theo đó, trong trường hợp vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố hoặc xét xử, nhưng do có sự thay đổi chính sách, pháp luật mà làm cho hành vi phạm tội đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa thì người phạm tội sẽ được miễn trách nhiệm hình sự (Điểm a khoản 1 Điều 29).
Sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa có thể được hiểu là: (1) BLHS đã phi tội phạm hóa đối với tội phạm đó; (2) hoặc tuy hành vi phạm tội vẫn còn quy định trong BLHS nhưng do chưa kịp sửa đổi, bổ sung, trong khi đó pháp luật chuyên ngành về lĩnh vực đó đã có sự thay đổi dẫn đến hành vi đó không còn bị nghiêm cấm nữa. Việc đưa ra xử lý người có hành vi phạm tội này sẽ không phù hợp với yêu cầu của thực tiễn.
Thứ tư, Bộ luật đã bổ sung 02 căn cứ để có thể được miễn trách nhiệm hình sự, bao gồm:
- Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa (điểm b khoản 2);
- Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự (khoản 3).
Thứ năm, quy định chặt chẽ hơn căn cứ miễn trách nhiệm hình sự đối với trường hợp người phạm tội tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, theo đó, ngoài các căn cứ như quy định tại khoản 2 Điều 25 của BLHS năm 1999 còn phải có thêm lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận mới được xem xét để miễn trách nhiệm hình sự (điểm c khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015).
CHƯƠNG VI. HÌNH PHẠT
Chương VI của BLHS năm 2015 gồm có 16 điều (từ Điều 30 đến Điều 45) quy định về hệ thống hình phạt. Đây là một trong những chương quan trọng, có nhiều nội dung sửa đổi, bổ sung trên tinh thần tiếp tục thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp được khẳng định tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, đặc biệt là chủ trương: "Đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm. Hạn chế áp dụng hình phạt tử hình theo hướng chỉ áp dụng đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng", đồng thời, góp phần bảo đảm tính đồng bộ, khả thi và hiệu quả của hệ thống hình phạt.
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về hệ thống hình phạt tập trung vào 03 nội dung lớn: một là, bổ sung hệ thống hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội; hai là, hạn chế áp dụng hình phạt tù; mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ; ba là, hạn chế áp dụng và thi hành hình phạt tử hình. Những nội dung sửa đổi, bổ sung chủ yếu được thể hiện trong các điều 33, 35, 36, 38 và 40 của BLHS. Ngoài ra, còn có một số sửa đổi nhỏ về nội dung và kỹ thuật tại các điều 30, 31, 32, 39, 44 và 45. Những điều luật khác của Chương này được giữ nguyên như quy định của BLHS năm 1999, đó là: (1) Điều 34. Cảnh cáo; (2) Điều 37. Trục xuất; (3) Điều 41. Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; (4) Điều 42. Cấm cư trú; (5) Điều 43. Quản chế.
Điều 30. Khái niệm hình phạt và Điều 31. Mục đích của hình phạt
Cùng với việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại vào BLHS năm 2015, Điều 30 (khái niệm hình phạt) và Điều 31 (mục đích của hình phạt) đã bổ sung thêm đối tượng bị áp dụng hình phạt và đối tượng mà mục đích trừng trị và giáo dục của hình phạt hướng tới là pháp nhân thương mại phạm tội. Về những nội dung khác của Điều luật này thì giữ nguyên so với Điều 26 và 27 BLHS 1999.
Điều 32. Các hình phạt đối với người phạm tội
Về mặt nội dung, Điều luật này kế thừa toàn bộ quy định tại Điều 28 của BLHS năm 1999, chỉ có hai điểm sửa đổi mang tính kỹ thuật: một là, sửa tên gọi của Điều này thành “Các hình phạt đối với người phạm tội” để phân biệt với Điều 33 (Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội); hai là, bỏ cụm từ “Hình phạt bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung".
Điều 33. Các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội
Đây là điều luật mới cùng với việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, quy định các hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Theo đó, hệ thống hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội gồm có 03 hình phạt chính và 03 hình phạt bổ sung, trong đó:
- Hình phạt chính bao gồm: (1) phạt tiền; (2) đình chỉ hoạt động có thời hạn; (3) đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.
- Hình phạt bổ sung bao gồm: (1) cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; (2) cấm huy động vốn; (3) phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính.
Hệ thống hình phạt này trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm nước ngoài; thống nhất với các quy định của pháp luật về xử phạt hành chính và phù hợp xử lý đối với các hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại gây ra.
Điều 35. Phạt tiền
Về cơ bản, điều này kế thừa quy định về hình phạt tiền tại Điều 30 của BLHS năm 1999, đồng thời bổ sung hai điểm sau đây:
Thứ nhất, mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền với tính cách là hình phạt chính, đồng thời quy định rõ các trường hợp phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính (khoản 1), theo đó, phạt tiền là hình phạt chính không chỉ được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng (như quy định của BLHS năm 1999) mà cả trường hợp phạm các tội nghiêm trọng. Riêng đối với nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng thì phạt tiền là hình phạt chính có thể áp dụng cả đối với tội rất nghiêm trọng.  
Quy định này được cụ thể hoá tại một số điều khoản thuộc Phần các tội phạm, theo đó, hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với 112/314 tội phạm cụ thể, chiếm tỉ lệ hơn 35%, tập trung vào các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân; các tội xâm phạm sở hữu; các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; các tội phạm về môi trường; các tội xâm phạm an toàn cộng cộng, trật tự công cộng và các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính.
Thứ hai, loại bỏ quy định trước đây "Tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Toà án quyết định trong bản án" (khoản 4 Điều 30 của BLHS năm 1999) vì đây là quy định mang tính thủ tục thi hành án.
Điều 36. Cải tạo không giam giữ
Xuất phát từ quan điểm cải tạo không giam giữ là loại hình phạt không nhằm tước tự do của người bị kết án mà tạo cho họ cơ hội được cải tạo tại môi trường xã hội bình thường dưới sự giám sát, giúp đỡ của chính quyền, gia đình, cơ quan, tổ chức và cộng đồng, quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ được sửa đổi, bổ sung trên tinh thần bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng cũng như tính chặt chẽ, khả thi nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả của hình phạt này.
Về cơ bản, Điều luật kế thừa quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ của BLHS năm 1999, đồng thời có ba điểm sửa đổi, bổ sung:
Thứ nhất, cụ thể hóa nội dung cải tạo không giam giữ đối với người không có việc làm, theo đó, người bị kết án không có việc làm ổn định hoặc mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong một thời hạn nhất định do Tòa án quyết định. Quy định này thể hiện quan điểm giáo dục cải tạo người phạm tội thông qua lao động.
Xác định cụ thể thời gian lao động phục vụ cộng đồng là không quá 4 giờ/một ngày và không quá 5 ngày/một tuần. Điều luật cũng quy định rõ: không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với năm đối tượng người bị kết án cải tạo không giam giữ sau đây: (1) phụ nữ đang có thai; (2) phụ nữ đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi; (3) người già yếu; (4) người bị bệnh hiểm nghèo; (5) người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng. Nhìn chung, đây là những đối tượng yếu thế, cần có chính sách bảo vệ đặc biệt.
Thứ hai, bổ sung quy định không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang thực hiện nghĩa vụ quân sự, bởi lẽ, trong quá trình thực hiện nghĩa vụ quân sự, người đó không có thu nhập (lương) hàng tháng mà chỉ có một khoản phụ cấp tiêu vặt để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân.
Thứ ba, bổ sung quy định về cách thức khấu trừ một phần thu nhập của người bị kết án cải tạo không giam giữ, theo đó, việc khấu trừ thu nhập của người bị kết án sẽ được thực hiện hàng tháng với mức do Tòa án quyết định (từ 05% đến 20%).
Điều 38. Tù có thời hạn
Điều 38 của BLHS năm 2015 kế thừa toàn bộ quy định tại Điều 33 của BLHS năm 1999, đồng thời có hai điểm sửa đổi, bổ sung mới trên tinh thần quán triệt chủ trương "Đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội phạm" được nêu tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị. Cụ thể là:
Thứ nhất, tại Phần các tội phạm, số lượng các điều luật không quy định hình phạt tù tăng từ 06 điều luật (theo BLHS năm 1999) lên 26 điều luật (theo BLHS năm 2015 ), trong số đó có 05 điều luật được bổ sung mới.
Thứ hai, xác định nguyên tắc không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng (khoản 2). Trong trường hợp này, Tòa án sẽ quyết định áp dụng một hình phạt không mang tính giam giữ đối với người phạm tội (cảnh cáo, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ).
Thứ ba, khái niệm tù có thời hạn được chỉnh sửa theo hướng “Tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định”. Như vậy, theo khái niệm này thì phạt tù có thời hạn không chỉ là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam như quy định của BLHS năm 1999 mà còn bao hàm cả trường hợp buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ khác (trại tạm giam, nhà tạm giữ). Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn tổ chức thi hành án phạt tù ở nước ta.
Điều 39. Tù chung thân
Điều luật này không có sửa đổi, bổ sung gì về mặt nội dung, ngoại trừ việc thay đổi cụm từ “người chưa thành niên” thành cụm từ “người dưới 18 tuổi” tại đoạn 2 để bảo đảm sự phù hợp, thống nhất với pháp luật chuyên ngành về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Điều 40. Tử hình
Điều 40 của BLHS năm 2015 quy định về hình phạt tử hình trên cơ sở kế thừa đầy đủ quy định về hình phạt tử hình tại Điều 35 của BLHS năm 1999, đồng thời, có 03 điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản trên tinh thần tiếp tục thực hiện chủ trương hạn chế áp dụng hình phạt tử hình được khẳng định tại các Nghị quyết của Đảng[7] và bám sát tinh thần quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người cũng như phù hợp với xu hướng chung của thế giới hiện nay là thu hẹp dần phạm vi áp dụng hình phạt tử hình, cụ thể như sau:
Thứ nhất, khoản 1, bên cạnh việc tiếp tục khẳng định: tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng đã bổ sung quy định xác định rõ chỉ đối với 05 nhóm tội phạm có thể áp dụng hình phạt tử hình, đó là: (1) các tội xâm phạm an ninh quốc gia; (2) các tội xâm phạm tính mạng con người; (3) các tội phạm về ma túy; (4) các tội phạm tham nhũng; (5) và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật hình sự quy định (như các tội: sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; khủng bố; phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh...).
Trên cơ sở quy định mang tính định hướng này thì BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình đối với 07 tội danh: (1) tội cướp tài sản; (2) tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm; (3) tội tàng trữ trái phép chất ma túy; (4) tội chiếm đoạt chất ma túy; (5) tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; (6) tội chống mệnh lệnh; (7) tội đầu hàng địch. Như vậy, BLHS năm 2015 chỉ còn duy trì hình phạt tử hình đối với 18/314 tội danh thuộc 07/14 nhóm tội phạm[8], giảm 11 tội danh so với BLHS năm 1999 và giảm 04 tội danh so với BLHS (sửa đổi năm 2009)[9].
Thứ hai, bổ sung quy định không áp dụng hình phạt tử hình và không thi hành án tử hình đối với người đủ 75 tuổi trở lên. Trường hợp không thi hành án tử hình thì hình phạt tử hình sẽ được chuyển thành tù chung thân. Quy định này là một hướng góp phần giảm hình phạt tử hình trên thực tế, đồng thời thể hiện rõ tính nhân đạo sâu sắc trong chính sách hình sự của Nhà nước ta.
Thứ ba, bổ sung quy định không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản hoặc tội nhận hối lộ nếu sau khi bị kết án, người đó đã chủ động giao nộp lại cho Nhà nước ít nhất là 3/4 số tiền, tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn (Điểm c khoản 3). Trong trường hợp này, hình phạt tử hình được chuyển thành tù chung thân. Quy định này nhằm góp phần hạn chế hình phạt tử hình trên thực tế theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị, đồng thời, giúp các cơ quan chức năng thu hồi lại được các tài sản bị chiếm đoạt. Người được áp dụng quy định này phải chấp hành án tù chung thân với thời gian thực tế chấp hành lâu hơn và điều kiện xét giảm chặt chẽ hơn so với người bị kết án tù chung thân.
Điều 44. Tước một số quyền công dân
Theo quy định về hình phạt tước một số quyền công dân tại Điều 39 của BLHS năm 1999 thì một trong những quyền công dân mà công dân Việt Nam bị kết án tù có thể bị tước đó là quyền bầu cử. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền con người, quyền công dân theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013, Luật bầu cử đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân nhân năm 2015 đã quy định quyền bầu cử chỉ bị hạn chế đối với người bị kết án bằng bản án có hiệu lực pháp và đang chấp hành bản án, quyết định của Tòa án. Đối với người đã chấp hành xong bản án, quyết định của Tòa án thì họ vẫn có quyền bầu cử. Vì thế, Điều 44 của BLHS năm 2015 đã bỏ quy định tước quyền bầu cử của người bị kết án tù về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm khác do BLHS quy định. Còn các nội dung khác vẫn giữ như quy định của BLHS năm 1999.
Điều 45. Tịch thu tài sản
Nội dung của hình phạt bổ sung này là việc tịch thu tài sản hợp pháp của người bị kết án, do đó, để đảm bảo tinh thần của Hiến pháp về bảo vệ quyền về tài sản của người dân, Điều 45 BLHS năm 2015 đã xác định rõ ràng, cụ thể phạm vi áp dụng hình phạt tịch thu tài sản theo hướng hình phạt này không phải áp dụng đối với người bị kết án về bất kỳ tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng nào như quy định của BLHS năm 1999 mà chỉ áp dụng đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong bốn nhóm tội phạm sau: (1) các tội xâm phạm an ninh quốc gia; (2) các tội phạm về ma tuý; (3) các tội phạm tham nhũng; (4) tội phạm khác do BLHS quy định. Quy định này định hướng cho việc quy định hình phạt tịch thu tài sản trong cấu thành của từng tội phạm cụ thể.
 
CHƯƠNG VII. CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
Chương VII. Các biện pháp tư pháp gồm có 04 điều (từ Điều 46 đến Điều 49) quy định về các biện pháp tư pháp. Điểm mới cơ bản nhất của chương này là việc bổ sung các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Còn các nội dung khác cơ bản vẫn giữ như quy định của BLHS năm 1999 (ví dụ Điều 48 của BLHS năm 2015). Cụ thể như sau:
Điều 46. Các biện pháp tư pháp
Cùng với việc bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội, BLHS năm 2015 đã bổ sung Điều 46 quy định về hệ thống các biện pháp tư pháp áp dụng đối với cá nhân và pháp nhân thương mại phạm tội, trong đó:
- Các biện pháp tư pháp đối với người phạm tội gồm có 03 biện pháp: (1) tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; (2) trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; (3) bắt buộc chữa bệnh. Đây là ba biện pháp được kế thừa của BLHS năm 1999.
- Các biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội gồm có 04 biện pháp: 1) tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; (2) trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi; (3) buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; (4) buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra. Như vậy, có thể thấy, trong số 04 biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì có hai biện pháp cũng áp dụng đối với cá nhân người phạm tội.
Các biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định cụ thể tại Điều 82 thuộc Chương XI. Những quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội của BLHS năm 2015.
Điều 47. Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
Về cơ bản, nội dung điều luật này vẫn kế thừa nhiều quy định tại Điều 41 của BLHS năm 1999, chỉ sửa đổi nhỏ về nội dung và kỹ thuật nhằm thể hiện chính xác, cụ thể hơn như sau:
Thứ nhất, về nội dung: Bổ sung thêm đối tượng vật, tiền liên quan đến tội phạm sẽ bị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là "khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội" để đảm bảo sự đầy đủ, chính xác cũng như đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn áp dụng pháp luật. Đồng thời, bên cạnh hình thức xử lý đối với vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm là "tịch thu sung vào ngân sách nhà nước" như quy định tại Điều 41 của BLHS năm 1999, Điều 47 cũng đã bổ sung thêm hình thức xử lý nữa, đó là "tịch thu tiêu hủy" tại khoản 1 để đảm bảo sự đầy đủ, chính xác và bao quát thực tiễn xử lý vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm.
Thứ hai, về kỹ thuật: Khoản 1 Điều 47 đã thay cụm từ "sung quỹ nhà nước" bằng cụm từ "sung vào ngân sách nhà nước" để đảm bảo sự chính xác trong cách sử dụng thuật ngữ. Đồng thời tại khoản 3 Điều 47 đã bỏ cụm từ "sung quỹ nhà nước" để đảm bảo sự linh hoạt trong xử lý vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm bị tịch thu (có thể bị sung vào ngân sách nhà nước hoặc có thể bị tiêu hủy, tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của từng loại vật, tiền).
Điều 49. Bắt buộc chữa bệnh
Điều 49 BLHS năm 2015 quy định về biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh được hình thành trên cơ sở gộp 02 điều luật của BLHS năm 1999 là Điều 43 - Bắt buộc chữa bệnh và Điều 44 - Thời gian bắt buộc chữa bệnh.
So với Điều 43 của BLHS năm 1999 về biện pháp bắt buộc chữa bệnh thì Điều 49 của BLHS năm 2015 có sửa đổi không lớn theo hướng thể hiện chính xác, cụ thể hơn như sau:
Thứ nhất, về nội dung: Theo quy định của BLHS năm 1999 thì căn cứ để quyết định đưa người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội vào một sơ sở chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh là "kết luận của Hội đồng giám định pháp y", Điều 49 BLHS năm 2015 đã sửa đổi căn cứ này thành " kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần" để phù hợp với Luật giám định tư pháp năm 2012, bởi lẽ, chỉ trong trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai mới phải do Hội đồng giám định thực hiện. Hơn nữa, Luật giám định tư pháp năm 2012 quy định giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần là hai lĩnh vực giám định thuộc giám định tư pháp. Vì thế, nếu quy định "căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y" như Điều 43 BLHS năm 1999 là chưa đầy đủ và chưa chính xác.
Thứ hai, về kỹ thuật: Đưa nội dung quy định về việc trừ thời gian bắt buộc chữa bệnh vào thời hạn chấp hành hình phạt tù tại Điều 44 BLHS năm 1999 vào nội dung Điều 49 BLHS năm 2015.
 
CHƯƠNG VIII. QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
So với Bộ luật hình sự năm 1999 (BLHS), Chương này được thiết kế lại thành hai Mục rõ ràng hơn:
Mục 1. Quy định chung về Quyết định hình phạt gồm 04 điều (từ Điều 50 đến Điều 53).
Mục 2. Quyết định hình phạt trong các trường hợp cụ thể, gồm 06 Điều (từ Điều 54 đến Điều 59).
Nội dung mới trong chương này tập trung vào một số điểm chủ yếu như sau:
Điều 50. Căn cứ quyết định hình phạt
Điều luật này được thiết kế thành hai khoản. Khoản 1 được giữ nguyên như quy định tại Điều 45 của BLHS năm 1999.
Khoản 2 bổ sung quy định mới: “Khi áp dụng hình phạt tiền, ngoài căn cứ quy định Khoản 1 Điều này, Tòa án căn cứ vào tình hình tài sản, khả năng thi hành của người phạm tội” nhằm bảo đảm tính khả thi của bản án khi Tòa án áp dụng hình phạt tiền. Như vậy, Hội đồng xét xử phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án về các tài liệu phản ánh tình hình tài sản, khả năng thi hành hình phạt tiền của người phạm tội. Nếu hồ sơ vụ án không có các tài liệu này và tại phiên tòa cũng không có căn cứ này, thì Tòa án không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính.
Điều 51. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
 So với Điều 46 BLHS năm 1999, Điều 51 BLHS năm 2015 có một số sửa đổi, bổ sung như sau:
Một là, bổ sung các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1, bảo đảm phù hợp và đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn xử lý người phạm tội:
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (điểm đ);
- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra (điểm l);
- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng (điểm p);
- Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sỹ, người có công với cách mạng (điểm x).
Hai là, tách một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định ghép trong cùng một điểm của khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 để khắc phục những vướng mắc về cách hiểu, để làm rõ và cụ thể hơn.
Ba là, sửa đổi tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra” (điểm đ khoản 1 Điều 46 BLHS 1999) theo hướng thu hẹp thành “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra” (điểm e khoản 1 Điều luật) nhằm bảo đảm xử lý chính xác đối với hành vi phạm tội;
 Bốn là, khoản 2 bổ sung tình tiết "đầu thú", theo đó, khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
So với Điều 48 BLHS 1999, để bảo đảm rõ ràng và cụ thể hơn, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ở Điều 52 được sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
Một là, loại bỏ tình tiết “phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” (điểm k khoản 1 Điều 48 BLHS năm 1999) bởi mang tính định tính, thực tiễn áp dụng đã gặp nhiều khó khăn, vướng mắc do cách quy định chung chung, không cụ thể. Các tình tiết này cũng đã được lượng hóa trong hầu hết các tội phạm cụ thể và khi đã là tình tiết định tội, định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng nữa.
Hai là, bổ sung tình tiết tại điểm k khoản 1 trường hợp phạm tội đối với người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, người bị hạn chế khả năng nhận thức để đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm do tội phạm gây ra đối với những người người không có khả năng tự bảo vệ mình trước sự xâm hại của tội phạm, phù hợp với thực tiễn đấu trnah phòng, chống tọi phạm.
Ba là, tại khoản 1, tách một số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trước đây quy định ghép trong cùng một điểm để bảo đảm rõ ràng, thuận lợi cho thống nhất áp dụng; bổ sung làm rõ hơn các tình tiết  như: điểm g “Phạm tội 02 lần trở lên” (thay thế “nhiều lần” bằng “ 02 lần trở lên”); điểm h “Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”; điểm m “ Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội”; điểm n “Dùng thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội”; điểm m bổ sung thêm tình tiết “tinh vi”; sửa cụm từ ‘phạm tội đối với trẻ em’ thành ‘phạm tội đối với người dưới 16 tuổi’; sửa ‘người già’ thành “người đủ 70 tuổi trở lên” tại điểm I; sửa cụm từ “Xúi giục người chưa thành niên phạm tội” thành “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội”  tại điểm o...
Lưu ý: Nội dung của các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự đã được hướng dẫn tại điểm c Mục 5 hoặc Mục 6 của Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đối với các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại ác điểm đ, l, p, x Khoản 1 Điều 51 hoặc điểm k Khoản 1 Điều 52 thì cần nghiên cứu thêm Luật người cao tuổi, Luật Người khuyết tật để hiểu sâu hơn về các quy định mới này.
Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Về cơ bản, quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm được kế thừa quy định của Điều 49 năm 1999. Điều luật này chỉ sửa từ “phạm tội ” thành “thực hiện hành vi phạm tội” để phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Chú ý: liên quan đến quy định này, khoản 2 Điều 69 của BLHS năm 2015 về xóa án tích quy định: “Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích”. Đây là quy định mới, tiến bộ nhằm giảm bớt việc áp dụng hình phạt tù trong thực tiễn, thể hiện rõ quan điểm hướng thiện, bởi người phạm tội do lỗi vô ý không phải là người thể hiện thái độ coi thường, bất chấp pháp luật mà hành vi phạm tội của họ mang tính “nhất thời” và có thể coi đó là một “tai nạn” trong cuộc đời của họ.
Khoản 1 Điều 107 BLHS năm 2015 về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án quy định: người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi; (2) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; (3) người bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng.
Như vậy, những trường hợp nêu trên không được coi là tái phạm vì không được coi là có án tích đồng thời cũng không phải là các trường hợp để xác định tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015 “Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý”.
Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng
Điều luật này có một số sửa đổi, bổ sung như sau:
- Khoản 1 sửa về kỹ thuật: Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 BLHS.
- Bổ sung khoản 2 quy định: Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm, nhưng có vai trò không đáng kể, để bảo đảm việc quyết định áp dụng hình phạt được đúng đắn, chính xác đối người phạm tội, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử vụ án hình sự.
Đây là quy định mới có ý nghĩa nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn xét xử của Tòa án đối với trường hợp lần đầu phạm tội, là người giúp sức, có vai trò không đáng kể trong vụ án đồng phạm. Bởi, theo quy định tại Điều 47 BLHS năm 1999, thì dù có xem xét, khoan hồng tối đa, Tòa án cũng chỉ được phép áp dụng hình phạt trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật, dẫn đến việc áp dụng hình phạt trong trường hợp này là quá nghiêm khắc.
- Khoản 3 Điều này được thiết kế trên tinh thần của đoạn cuối Điều 47 BLHS năm 1999, nhưng cụ thể và rõ ràng hơn: Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
Điều 55. Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội; Điều 56. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án; Điều 58. Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm; Điều 59. Miễn hình phạt
Những điều luật này được kế thừa nội dung quy định của điều luật tương ứng của BLHS năm 1999. Các điều luật này chỉ sửa về kỹ thuật như “ba ngày” thành “03 ngày”; “một ngày” thành “01 ngày”; sửa “phạm tội” thành “thực hiện hành vi phạm tội mới”...
Điều 57. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
So với Điều 52 của BLHS năm 1999, Điều luật có những sửa đổi, bổ sung quan trọng đó là:
- Khoản 2: đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể. Ví dụ: Khoản 3 Điều 123. Tội giết người quy định: “3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
- Khoản 3, đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, “nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn, thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định”.
 
CHƯƠNG IX. THỜI HIỆU THI HÀNH BẢN ÁN, MIỄN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT, GIẢM THỜI HẠN CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT
Chương IX BLHS năm 2015 quy định về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hiệu chấp hành hình phạt với 09 điều (từ Điều 60 đến Điều 68).
Về cơ bản, các quy định của BLHS năm 2015 về thời hiệu thi hành án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tiếp tục kế thừa quan điểm xây dựng của BLHS năm 1999. Ngoài một số điều được giữ nguyên: Điều 61. Không áp dụng thời hiệu thi hành bản án (Điều 56 của BLHS năm 1999); Điều 64. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt (Điều 59 của BLHS năm 1999); Điều 67. Hoãn chấp hành hình phạt tù (Điều 61 của BLHS năm 1999); Điều 68. Tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù (Điều 62 của BLHS năm 1999), nội dung sửa đổi, bổ sung trong chương này chủ yếu tập trung vào các điều khoản sau đây:
Điều 60. Thời hiệu thi hành bản án
So với BLHS năm 1999, Điều này sửa đổi, bổ sung ở 02 điểm sau:
Thứ nhất, bổ sung thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại tại khoản 3 của điều luật.
Thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với pháp nhân thương mại là 05 năm. Thời hiệu này được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và nếu trong thời hạn 05 năm mà pháp nhân thương mại bị kết án không thực hiện hành vi phạm tội mới thì sau thời hạn 05 bản án sẽ hết hiệu lực thi hành và pháp nhân thương mại không phải chấp hành bản án đã tuyên.
Thứ hai, bổ sung quy định cụ thể thời hiệu thi hành bản án đối với người bị kết án tù chung thân hoặc tử hình là 20 năm.
Theo quy định tại khoản 4 Điều 55 của BLHS 1999 thì sau khi đã qua thời hạn 15 năm, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sẽ quyết định việc áp dụng thời hiệu thi hành bản án đối với người bị kết án tù chung thân hoặc tử hình theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân tối cao. Như vậy, sẽ có trường hợp được áp dụng thời hiệu thi hành bản án và có trường hợp không. Điều này dẫn đến sự không thống nhất khi áp dụng thời hiệu. Nhằm góp phần khắc phục bất cập này, bảo đảm tính minh bạch trong quy định của Bộ luật, khoản 1 Điều 60 của BLHS năm 2015 quy định rõ thời hiệu thi hành bản án hình sự đối với người bị kết án tù chung thân hoặc tử hình là 20 năm, tức là qua thời hạn 20 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì không được đưa bản án tù chung thân hoặc bản án tử hình ra thi hành.
Điều 62. Miễn chấp hành hình phạt
So với Điều 57 BLHS năm 1999, để bảo đảm phù hợp với thực tiễn, Điều 62 BLHS năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
Thứ nhất, đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt, theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Sau khi bị kết án đã lập công; b) Mắc bệnh hiểm nghèo; c) Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa (khoản 2).
Thứ hai, đối với người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, đã bổ sung: nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại (khoản 3).
Thứ ba, đối với người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra mà không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn,thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết đinh miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 58 của BLHS 1999, đây là trường hợp "Giảm mức hình phạt đã tuyên" nhưng xét về bản chất đây chính là trường hợp miễn chấp hành hình phạt còn lại cho người bị kết án. Do đó, quy định này được đưa về khoản 5 Điều 62 BLHS năm 2015 về miễn chấp hành hình phạt.
Thứ tư, khoản 6 Điều này kế thừa toàn bộ nội dung quy định của khoản 5 Điều 57 của BLHS năm 1999 về việc miễn chấp hành hình phạt cấm cư trú hoặc quản chế còn lại, nhưng thay đổi cơ quan đề nghị là chính quyền địa phương thành cơ quan thi hành án hình sự cấp huyện bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Thứ năm, bổ sung khoản 7 quy định: người được miễn chấp hành hình phạt vẫn phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án.
Điều 63. Giảm mức hình phạt đã tuyên
Điều luật này có một số điểm mới như sau:
Thứ nhất, so với quy định tại Điều 58 của BLHS 1999, khoản 1 Điều 63 BLHS năm 2015 bổ sung điều kiện để xem xét giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn và phạt tù chung thân“đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự (khoản 1). Quy định mới này xuất phát từ kết quả tổng kết thực tiễn thi hành BLHS năm 1999 và nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự.
 Thứ hai, bổ sung quy định: Trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm (khoản 3).
BLHS 1999 chỉ quy định về thời hạn để xem xét giảm lần đầu đối với hình phạt tù chung thân là 12 năm mà không phân biệt người chấp hành án bị kết án về một tội hay nhiều tội, do đó, trong trường hợp một người thực hiện 01 tội phạm và bị áp dụng hình phạt tù chung thân và người phạm nhiều tội, trong đó có tội bị kết án tù chung thân, tổng hợp hình phạt chung là tù chung thân thì thời hạn đã chấp hành án để xem xét giảm lần đầu là như nhau. Điều đó chưa thực sự bảo đảm tính công bằng. Để khắc phục hạn chế này, Điều 63 BLHS năm 2015 sửa đổi đối với trường hợp nêu trên theo hướng tăng thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu lên 15 năm tù, đồng thời quy định cụ thể thời gian thực tế phải bảo đảm chấp hành hình phạt là 25 năm (theo quy định của BLHS năm 1999 là 20 năm).
Thứ ba, sửa đổi quy định về thời hạn đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới theo hướng quy định thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu dựa trên sự phân hoá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội mới. Cụ thể: Đối với người được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý thì chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được ½ mức hình phạt chung. Đối với người được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì chỉ xét giảm lần đầu khi người đó đã chấp hành được 2/3 mức hình phạt chung (giữ nguyên như quy định của BLHS 1999). Riêng trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định tại khoản 3, tức là thời hạn đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 15 năm tù và dù xét giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thực tế chấp hành hình phạt là 25 năm.
Thứ tư, bổ sung quy định về trường hợp xét giảm án đối với người bị kết án tử hình đã được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình thuộc trường hợp không thi hành án tử hình quy định tại điểm b khoản 3 Điều 40 (người đủ 75 tuổi trở lên) hoặc tại điểm c khoản 3 Điều 40 của BLHS năm 2015 (người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ¾ tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn), theo đó, thời gian đã chấp hành hình phạt để xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 30 năm.
Điều 65. Án treo
Về cơ bản, điều kiện áp dụng án treo và các quy định có liên quan đến án treo quy định tại Điều 65 được kế thừa từ BLHS năm 1999 và có một số điểm sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:
Thứ nhất, bổ sung quy định về trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ của người được hưởng án treo trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự (khoản 1).
Thứ hai, nhằm tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành án treo, khoản 5 bổ sung quy định: “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Thứ ba, khoản 3 quy định rõ việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo chỉ khi trong điều luật áp dụng có quy định hình phạt này.
Điều 66. Tha tù trước thời hạn có điều kiện
Đây là điều luật mới của BLHS năm 2015 nhằm nâng cao tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội và góp phần thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về việc giáo dục người phạm tội trong môi trường xã hội bình thường. Theo đó cho phép người phạm tội đang chấp hành án phạt tù được quay trở về với cộng đồng sớm hơn để phục thiện, sửa chữa lỗi lầm với sự giúp đỡ và giám sát của gia đình, các cơ quan, đoàn thể xã hội. Sau khi được trả tự do, người đó phải tuân thủ các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Nếu trong thời gian thử thách mà người phạm tội vi phạm các điều kiện đặt ra thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, về điều kiện áp dụng (khoản 1):
Người đang chấp hành án phạt tù có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ bảy điều kiện sau:
- Phạm tội lần đầu;
- Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;
- Đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người bị kết án về tội phạm nghiêm trọng trở lên;
- Có nơi cư trú rõ ràng;
- Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và các nghĩa vụ bồi thường dân sự;
- Đã chấp hành được ít nhất là ½ mức thời hạn tù đối với hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 15 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.
Đối với một số trường hợp đặc biệt, người phạm tội là thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sỹ, gia đình có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì thời gian đã chấp hành án được giảm xuống, ít nhất là 1/3 hình phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất 12 năm đối với tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn.
- Không thuộc một trong các trường hợp loại trừ quy định tại khoản 2 Điều này, bao gồm: (1) người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia; tội khủng bộ; tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh hoặc người bị kết án từ 10 năm tù trở lên đối với tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của con người; 07 năm tù trở lên đối với các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản và sản xuất trái phép, mua bán trái phép, chiếm đoạt chất ma túy; (2) người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của BLHS.
Thứ hai, theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù (khoản 3):
Thứ ba, về trường hợp hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện (khoản 4):
Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người được tha tù trước thời hạn và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành nếu thuộc một trong hai trường hợp sau: (1) cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên; (2) bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách.
Thứ tư, về trường hợp người được tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách (khoản 4)
Nếu người được tha tù trước thời hạn thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định của tại Điều 56 của Bộ luật này.
Thứ năm, quy định về xét giảm thời gian thử thách (khoản 5):
Nếu người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất là ½ thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
 
CHƯƠNG X. XÓA ÁN TÍCH
Xóa án tích được quy định tại Chương X của BLHS năm 2015 gồm 5 điều luật (từ Điều 69 đến Điều 73) quy định các vấn đề liên quan đến xoá án tích, các trường hợp không bị coi là có án tích. Cụ thể: Điều 69-Xoá án tích, Điều 70- Đương nhiên được xoá án tích, Điều 71- Xoá án tích theo quyết định của Toà án, Điều 72- Xoá án tích trong trường hợp đặc biệt và Điều 73- Cách tính thời hạn để xoá án tích. So với BLHS 1999, nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản về xóa án tích trong BLHS năm 2015 như sau:
Điều 69. Xóa án tích
Điều này quy định có tính chất khái quát về xóa án tích, về hậu quả pháp lý của việc xóa án tích và các trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích. So với quy định tại BLHS 1999, Điều luật bổ sung quy định mới về các trường hợp không coi là có án tích tại khoản 2 điều này, theo đó, người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.
Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích
Điều luật này đã sửa đổi cơ bản quy định của BLHS năm 1999 về đương nhiên xóa án tích theo hướng quy định cụ thể điều kiện đương nhiên được xoá án tích và trách nhiệm của Nhà nước trong việc xoá án tích cho người bị kết án thể hiện ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, rút ngắn thời hạn để đương nhiên được xoá án tích:
Án tích tác động và hạn chế việc thực hiện các quyền của người bị kết án như quyền được hành nghề, công việc nhất định, hay việc tham gia ứng cử,... và do đó, ảnh hưởng đến việc tái hoà nhập cộng đồng của người bị kết án. Thời hạn tính để xoá án tích càng dài thì mức độ ảnh hưởng càng lớn và có thể dẫn đến những tiêu cực lớn hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người bị kết án và gia đình họ. Thời hạn xem xét để xoá án tích theo quy định của BLHS 1999 còn quá dài kể cả đương nhiên xoá án tích và xoá án tích theo quyết định của toà án, chưa tạo điều kiện để người đã chấp hành xong bản án nhanh chóng tái hoà nhập xã hội. Để khắc phục hạn chế này, Điều 70 BLHS năm 2015 rút ngắn thời hạn đương nhiên xóa án tích từ các mức 1 năm, 3 năm, 05 năm và 07 năm đối với từng trường hợp xuống các mức tương ứng là 01 năm, 02 năm, 03 năm và 05 năm. Cụ thể:
Trong thời hạn sau đây kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hết thời gian thử thách án treo, người bị kết án chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới hoặc kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới:
+ 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù cho hưởng án treo;
+ 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;
+ 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm;
+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình những đã được giảm án.
Thứ hai, sửa đổi thời điểm để bắt đầu tính thời hạn đương nhiên xoá án tích:
Theo BLHS 1999 thời điểm để bắt đầu tính thời hạn xoá án tích là kể từ thời điểm người bị kết án tích chấp hành xong bản án, bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Quy định này dẫn đến một thực tế là người chấp hành xong hình phạt chính trở lại cộng đồng nhiều năm nhưng vẫn chưa được tính thời hạn xoá án tích do chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung (ví dụ: hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, quyền hạn, cấm làm công việc nhất định đến 05 năm) hoặc án phí hình sự hoặc các quyết định dân sự trong bản án. Điều này làm cũng ảnh hưởng lớn đến quá trình tái hoà nhập cộng đồng của người bị kết án. Để tạo điều kiện cho người bị kết án nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, BLHS 2015 quy định thời điểm để bắt đầu tính xóa án tích sớm hơn khi người bị kết án chấp hành xong hình phạt chính.
Lưu ý: trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS 2015, người bị kết án phải chấp hành xong hình phạt bổ sung. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn nói trên thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.
Ba là, khoản 4 Điều 70 của BLHS năm 2015 xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp trong việc xoá án tích, theo đó, cơ quan này có trách nhiệm thực hiện việc cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện theo luật định. Quy định này nhằm đề cao trách nhiệm của Nhà nước trong việc xoá án tích, tạo thuận lợi cho người dân, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất với quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2010.
Điều 71. Xóa án tích theo quyết định của Tòa án
Điều này quy định về điều kiện xoá án tích đối với người bị kết án về các tội quy định tại Chương XIII (các tội xâm phạm an ninh quốc gia) và Chương XXIV (các tội phá hoạt hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh).
Cũng tương tự như quy định về đương nhiên xóa án tích, những nội dung mới của BLHS năm 2015 về xóa án tích theo quyết định của Tòa án tập trung vào hai vấn đề sau:
Một là, rút ngắn thời hạn để toà án xem xét, quyết định xóa án tích từ các mức 3 năm, 07 năm và 10 năm giảm xuống với các mức tương ứng là 03 năm, 05 năm và 7 năm. Cụ thể là:
Trong thời hạn sau đây, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người bị kết án chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới hoặc kể từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới:
- 03 năm trong trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 05 năm;
- 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;
- 07 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.
Hai là, xác định rõ thời điểm để tính thời hạn xóa án tích là kể từ thời điểm chấp hành xong hình phạt chính hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án.
Điều 72. Xóa án tích trong trường hợp đặc biệt
Điều này giữ nguyên chính sách về xóa án tích trong trường hợp đặc biệt như quy định của BLHS 1999.
Điều 73. Cách tính thời hạn để xóa án tích
So với BLHS 1999 về cách tính thời hạn để xoá án tích, Điều 73 BLHS năm 2015 có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:
Một là, khoản 2 Điều 73 sửa đổi, bổ sung quy định về cách tính thời hạn để xoá án tích của bản án cũ trong trường hợp một người bị kết án chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Toà án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật theo hướng thời hạn để xoá án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành (theo quy định của BLHS năm 1999 thì thời hạn để xoá án tích cũ tính từ ngày chấp hành xong bản án mới).
Hai là, bổ sung quy định tại khoản 3 về cách tính thời hạn để xoá án tích đối với người bị kết án trong trường hợp phạm nhiều tội mà có tội thuộc trường hợp đương nhiên được xoá án tích, có tội thuộc trường hợp xoá án tích theo quyết định của toà án, thì căn cứ vào thời hạn xoá án tích theo quyết định của Toà án để xem xét xoá án tích cho người đó.
 
CHƯƠNG XI. NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN THƯƠNG MẠI PHẠM TỘI – ĐIỂM MỚI NHẤT CỦA BLHS NĂM 2015
Theo quan niệm truyền thống của khoa học luật hình sự, tội phạm là sự kết hợp giữa hành vi nguy hiểm của con người và thái độ lỗi của người đó, nên trước khi ban hành BLHS năm 2015, pháp luật hình sự Việt Nam vẫn chỉ coi chủ thể của tội phạm là các cá nhân và do vậy chỉ đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân phạm tội.
Việc BLHS năm 2015 bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân đã đánh dấu bước phát triển mang tính đột phá trong chính sách hình sự và tư duy lập pháp hình sự nước ta, làm thay đổi nhận thức truyền thống về tội phạm và hình phạt. Trên cơ sở cân nhắc một cách thận trọng những điều kiện cụ thể của Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta, chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân được quy định trong BLHS năm 2015. Việc bổ sung chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại vào BLHS xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn, trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế và là kết quả của gần 16 năm (từ 1999 đến nay) kiên trì, bền bỉ nghiên cứu, đề xuất nhằm góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân trong thời gian qua, nhất là những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, đồng thời tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của pháp nhân gây ra.
BLHS năm 2015 có một Chương riêng (Chương XI) với 16 điều (từ Điều 74 đến Điều 89) quy định chính sách xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Ngoài ra, vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại còn được đề cập đến trong một số điều khoản khác của BLHS như: cơ sở trách nhiệm hình sự (Điều 3), khái niệm tội phạm (Điều 8), hệ thống hình phạt (Điều 35)...
Điều 74. Áp dụng quy định của BLHS đối với pháp nhân thương mại phạm tội
Điều 74 khẳng định một nguyên tắc quan trọng là khi xem xét vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội thì trước tiên phải căn cứ vào các quy định trong Chương XI này, đồng thời căn cứ vào các quy định khác trong phần quy định chung của BLHS mà không trái với quy định của Chương này. Điều đó có nghĩa là về cùng một vấn đề mà nếu các quy định  trong Phần Những quy định chung của BLHS khác với quy định của Chương này thì áp dụng quy định của chương này (ví dụ: quy định về mức tối thiểu của hình phạt tiền tại các Điều 35 và 77; quy định về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các Điều 51, 52, 84, 85). Còn những điều khoản khác trong Phần những quy định chung của BLHS quy định về những vấn đề mà không được quy định trực tiếp trong chương này hoặc không trái với tinh thần quy định của chương này thì vẫn được áp dụng. Ví dụ: thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 27), về biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 47)...
Điều 75. Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Đây là quy định làm cơ sở để xem xét vấn đề trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
Trên cơ sở tham khảo pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng pháp luật một số nước, để bảo đảm tính khả thi và phù hợp với điều kiện của Việt Nam, Điều 75 của BLHS năm 2015 quy định pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ 04 điều kiện, trong đó 03 điều kiện là các căn cứ đặc thù khi xác định trách nhiệm hình sự của pháp nhân và 01 điều kiện là căn cứ áp dụng chung cho cả cá nhân và pháp nhân. Cụ thể là:
Thứ nhất, hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại, nghĩa là, người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội dưới danh nghĩa của pháp nhân. Nếu dưới danh nghĩa của cá nhân thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân ngay cả khi họ là người đại diện hợp pháp của pháp nhân. Người thực hiện hành vi nhân danh pháp nhân có thể là người lãnh đạo, người điều hành pháp nhân hoặc người được pháp nhân ủy quyền.
Thứ hai, hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại, nghĩa là, mục đích của việc thực hiện hành vi phạm tội đó là mang lại lợi ích chung cho pháp nhân, kể cả trong trường hợp lợi ích của pháp nhân không phải là duy nhất. Ví dụ như: giảm chi phí nộp thuế cho pháp nhân, mang lại lợi ích cho pháp nhân khi thực hiện hành vi thao túng giá chứng khoán. Trường hợp thực hiện hành vi trên danh nghĩa pháp nhân nhưng lại mang lại lợi ích cho cá nhân thì cũng không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.
Thứ ba, hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Đây là một trong những điều kiện quan trọng để xác định một pháp nhân có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Nói cách khác, căn cứ này phản ánh dấu hiệu “lỗi” của pháp nhân thông qua việc đánh giá ý thức chủ quan của người đứng đầu, ban lãnh đạo pháp nhân. Như vậy, pháp nhân chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi người đứng đầu pháp nhân hoặc Ban lãnh đạo của pháp nhân nhận thức được hành vi của người thực hiện là trái pháp luật mà vẫn chỉ đạo, trực tiếp điều hành hoặc chấp thuận cho người đó thực hiện hành vi nhằm phục vụ cho lợi ích chung của pháp nhân.
Thứ tư, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS.
Lưu ý: khoản 2 Điều 75 của BLHS năm 2015 quy định nguyên tắc không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân khi xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Điều này có nghĩa là trách nhiệm hình sự của pháp nhân không thay thế, làm loại bỏ hoặc ảnh hưởng đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân. Không được coi việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại về hành vi phạm tội là để thay thế cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân về hành vi phạm tội đó mà cá nhân phải đồng chịu trách nhiệm với pháp nhân về hành vi phạm tội theo nguyên tắc:
- Người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội luôn phải chịu trách nhiệm hình sự về cùng tội danh với pháp nhân trừ trường hợp người đó thuộc diện không phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS.
- Đối với người đứng đầu pháp nhân thì tùy từng trường hợp cụ thể để xử lý. Nếu những người này đều biết và thống nhất chỉ đạo, chấp thuận cho thực hiện thì họ cùng chịu trách nhiệm chung về tội danh với pháp nhân và người trực tiếp thực hiện tội phạm. Nếu có căn cứ cho rằng, trong số họ có người không biết hoặc phản đối việc thực hiện hành vi này thì họ không phải chịu trách nhiệm chung tội danh với pháp nhân.
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự về tội có quy định TNHS của pháp nhân, cần làm rõ các tình tiết hành vi, hậu quả của tội phạm và trách nhiệm của cá nhân hoặc pháp nhân (nếu có), trường hợp pháp nhân ra quyết định hoặc chỉ đạo cá nhân thực hiện hành vi phạm tội thì phải xử lý hình sự đồng thời cả cá nhân và pháp nhân về tội phạm mà họ đã thực hiện. Trường hợp phát hiện tội phạm xảy ra, mà ban đầu mới xác định được trách nhiệm của pháp nhân, thì khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với pháp nhân phạm tội, sau đó tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý hình sự cá nhân liên quan – người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, để bảo đảm việc xử lý TNHS đối với cá nhân, pháp nhân được toàn diện, triệt để, tránh bỏ lọt tội phạm, người và pháp nhân phạm tội.
Điều 76. Phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Qua tham khảo kinh nghiệm nước ngoài về loại tội mà pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự thì thấy rằng, hầu hết đối với các quốc gia lần đầu quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đều thể hiện “sự thận trọng cần thiết” bằng cách giới hạn một số tội phạm mà pháp nhân thường hay vi phạm (tính phổ biến). Do vậy, việc lần đầu tiên quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân ở nước ta cần có bước đi thận trọng, phù hợp. Trên tinh thần đó, Điều 76 của BLHS năm 2015 quy định pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 31 tội danh thuộc hai nhóm tội phạm là các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về môi trường[10].
 Các tội phạm này cũng tương đồng với lĩnh vực hoạt động chủ yếu của pháp nhân thương mại và đáp ứng yêu cầu của thực tiễn về tính phổ biến và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Về kỹ thuật thể hiện, trong các điều luật cụ thể của 31 tội danh nêu trên đều có một khung riêng quy định loại và mức hình phạt áp dụng đối với pháp nhân.
Điều 77. Phạt tiền
Về nguyên tắc, hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với pháp nhân thương mại phạm tội. Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và có xét đến tình hình tài chính của pháp nhân thương mại phạm tội, sự biến động của giá cả nhưng không được thấp hơn 50.000.000 đồng.
Căn cứ vào nguyên tắc chung như vậy, BLHS năm 2015 đã quy định cụ thể mức phạt tiền trong từng tội danh tương ứng với từng khung hình phạt cụ thể. Căn cứ vào hành vi mà người đại diện pháp nhân thực hiện phạm vào khung nào, thì Tòa án sẽ căn cứ vào mức phạt tiền quy định cho từng khung để quyết định một mức phạt cụ thể.
Điều 78. Đình chỉ hoạt động có thời hạn
Theo quy định tại Điều 78 thì hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn là tạm dừng hoạt động của pháp nhân thương mại trong một hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân thương mại phạm tội gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe con người, môi trường hoặc an ninh, trật tự, an toàn xã hội và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế. Thời hạn đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 03 năm.
Trên tinh thần xử lý trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân phải tính đến những tác động tiêu cực có thể xảy ra cho xã hội như tình trạng mất việc làm của người lao động, thất thu thuế… nên BLHS quy định áp dụng hình phạt này trên tinh thần khuyến khích pháp nhân khắc phục sai phạm, sửa chữa lỗi lầm để tiếp tục sản xuất kinh doanh và hậu quả gây ra có khả năng khắc phục trên thực tế. Trong trường hợp pháp nhân hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau, thì lĩnh vực nào vi phạm thì đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với lĩnh vực đó.
Điều 79. Đình chỉ hoạt động vĩnh viễn
Bản chất của hình phạt này là chấm dứt hoạt động của pháp nhân thương mại phạm tội. Tuy nhiên, phạm vi chấm dứt hoạt động tùy thuộc vào từng trường hợp phạm tội. Điều 79 quy định về hai trường hợp đình chỉ hoạt động của pháp nhân thương mại phạm tội:
Thứ nhất, đình chỉ hoạt động của pháp nhân thương mại trong một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực mà pháp nhân đó phạm tội khi có đủ hai điều kiện sau: (1) hành vi phạm tội gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; (2) không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra;
Thứ hai, đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động của pháp nhân thương mại trong trường hợp pháp nhân đó được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm.
Như vậy, trường hợp thứ nhất, BLHS quy định yếu tố hậu quả là gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt đặc biệt nghiêm trọng (thiệt hại tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường… ) và dấu hiệu không có khả năng khắc phục hậu quả (sự cố) là hai căn cứ để áp dụng hình phạt này. Trong trường hợp thứ hai, căn cứ để áp dụng hình phạt này là pháp nhân được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm, ví dụ như chỉ để thực hiện hành vi: buôn lậu; trốn thuế; in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước...
Điều 80. Cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định
Đây là hình phạt bổ sung được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án tiếp tục kinh doanh hoặc hoạt động trong lĩnh vực đó, thì có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người hoặc cho xã hội. Tùy từng trường hợp cụ thể, Tòa án quyết định lĩnh vực cụ thể bị cấm kinh doanh hoặc cấm hoạt động; Thời hạn cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Điều 81. Cấm huy động vốn
Hình phạt bổ sung này được áp dụng khi xét thấy nếu để pháp nhân thương mại bị kết án huy động vốn thì có nguy cơ tiếp tục phạm tội. Các hình thức cấm huy động vốn bao gồm: a) Cấm vay vốn ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc các quỹ đầu tư; b) Cấm phát hành, chào bán chứng khoán; c) Cấm huy động vốn khách hàng; d) Cấm liên doanh, liên kết trong và ngoài nước; đ) Cấm hình thành quỹ tín thác bất động sản. Tùy từng trường hợp cụ thể Tòa án quyết định áp dụng một hoặc một số hình thức cấm huy động vốn quy định ở trên; Thời hạn cấm huy động vốn là từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Điều 82. Các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội
Theo quy định tại Điều luật này thì có 04 biện pháp tư pháp được áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội:
Thứ nhất, tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm quy định tại Điều 47 của BLHS;
Thứ hai, trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi quy định tại Điều 48 của BLHS;
Thứ ba, buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;
Thứ tư, buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra, bao gồm: (1) buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép; (2) buộc khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh; (3) buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện được đưa vào lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhập khẩu trái với quy định của pháp luật hoặc được tạm nhập, tái xuất nhưng không tái xuất theo đúng quy định của pháp luật; hàng hóa nhập khẩu, quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, hàng hóa giả mạo quyền sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ yếu tố vi phạm; (4) buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại hoặc tang vật khác thuộc đối tượng bị tiêu hủy theo quy định của pháp luật; (5) buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm; (6) buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa vi phạm đang lưu thông trên thị trường.
Căn cứ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, Tòa án có thể quyết định buộc pháp nhân thương mại phạm tội phải thực hiện một hoặc một số biện pháp tư pháp nêu trên.
Điều 83. Căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội
Quy định về căn cứ quyết định hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội tại Điều 83 của BLHS năm 2015 về cơ bản cũng giống như quy định về căn cứ quyết định hình phạt đối với cá nhân phạm tội, theo đó, Tòa án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, việc chấp hành pháp luật của pháp nhân thương mại và các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại.
Điều 84. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại
Điều 84 quy định 05 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân bao gồm: (1) đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; (2) tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; (3) phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; (4) tích cực hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; (5) có nhiều đóng góp trong việc thực hiện chính sách xã hội. Đồng thời quy định khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 cũng ghi nhận nguyên tắc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với pháp nhân tương tự như đối với cá nhân, theo đó, những tình tiết là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.
Điều 85. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với pháp nhân thương mại
Điều 85 quy định chỉ các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự sau đây mới được áp dụng đối với pháp nhân thương mại gồm 06 tình tiết: (1) Câu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội; (2) Cố ý thực hiện tội phạm đến cùng; (3) Phạm tội 02 lần trở lên; (4) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; (5) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; (6) Dùng thủ đoạn tinh vi để phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.
Các tình tiết đã được BLHS quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng.
Cũng tương tự như đối với cá nhân phạm tội, Tòa án không được coi các tình tiết khác ngoài 06 tình tiết nêu trên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại.
Điều 86. Quyết định hình phạt trong trường hợp pháp nhân thương mại phạm nhiều tội
Kế thừa nguyên tắc chung khi quyết định hình phạt đối với cá nhân, Điều 86 của BLHS năm 2015 quy định khi xét xử cùng 01 lần pháp nhân thương mại phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo nguyên tắc:
Thứ nhất, đối với hình phạt chính:
- Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;
- Hình phạt đã tuyên là đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với từng lĩnh vực cụ thể thì không tổng hợp;
- Hình phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác.
Thứ hai, đối với hình phạt bổ sung:
- Nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền được cộng lại thành hình phạt chung;
- Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì pháp nhân thương mại bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên.
Điều 87. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
Điều 87 của BLHS năm 2015 quy định 03 trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án:
Một là, trường hợp pháp nhân thương mại đang chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của BLHS. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước về đình chỉ hoạt động có thời hạn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.
 Hai là, khi xét xử một pháp nhân thương mại đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 86 của BLHS.
Ba là, trong trường hợp một pháp nhân thương mại phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 86 của BLHS.
Điều 88. Miễn hình phạt
Pháp nhân thương mại phạm tội có thể được miễn hình phạt khi đã khắc phục toàn bộ hậu quả và đã bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Quy định này nhằm khuyến khích pháp nhân tích cực sửa chữa, khắc phục hậu quả, bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra nhằm giảm tối đa các tác động tiêu cực có thể mang lại từ việc áp dụng hình phạt.
Điều 89. Xóa án tích
Với tinh thần tạo điều kiện thuận lợi cho pháp nhân thương mại bị kết án sớm trở lại hoạt động bình thường sau khi đã chấp hành án xong, đồng thời để phù hợp với phạm vi chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân, BLHS năm 2015 đã quy định pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới.
 
CHƯƠNG XII. NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
Chính sách hình sự xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội được thể hiện quy định tại Chương XII với 18 điều luật (từ Điều 90 đến Điều 107). So với BLHS năm 1999 thì Chương XII của BLHS năm 2015 có những điểm sửa đổi, bổ sung sau đây:
Thứ nhất, về cấu trúc, chương này được phân chia thành 05 mục: Mục 1. Quy định chung về xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; Mục 2. Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự; Mục 3. Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; Mục 4. Hình phạt; Mục 5. Quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt, xoá án tích.
Thứ hai, về mặt kỹ thuật, BLHS đã sử dụng thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” thay cho thuật ngữ “người chưa thành niên” và “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi” thay cho thuật ngữ “trẻ em” mà BLHS năm 1999 đã sử dụng.
Thứ ba, về mặt nội dung, BLHS năm 2015 đã tiếp tục hoàn thiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên (người dưới 18 tuổi) phạm tội nhằm bảo đảm sự phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về tăng cường bảo vệ người chưa thành niên, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội được ghi nhận tại các Nghị quyết số 48/NQ-TW và số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị, đồng thời bảo đảm sự phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em và các chuẩn mực pháp lý quốc tế về tư pháp đối với người chưa thành niên. Nội dung sửa đổi, bổ sung về chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội tập trung vào các vấn đề sau đây: (1) tiếp tục hoàn thiện quy định về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội; (2) bổ sung các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự; (3) hoàn thiện hệ thống chế tài đối với người chưa thành niên phạm tội theo hướng tăng cường khả năng áp dụng các chế tài không tước tự do; (4) bổ sung các chế định pháp lý về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, tổng hợp hình phạt, miễn chấp hành phần hình phạt tù còn lại; (5) hoàn thiện quy định về xoá án tích đối với người chưa thành niên bị kết án theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho các em tái hoà nhập cộng đồng. Cụ thể:
1. Về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91)
Điều luật này sửa đổi, bổ sung Điều 69 BLHS 1999 theo hướng làm đậm nét và ghi nhận đầy đủ hơn nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội đã được quy định tại Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em và các chuẩn mực quốc tế khác có liên quan vừa bảo đảm tăng cường hiệu quả giáo dục, phục hồi đối với người chưa thành niên phạm tội, vừa thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ, giáo dục trẻ em nói chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng.
Nội dung sửa đổi, bổ sung Điều này tập trung vào 03 vấn đề sau đây:
Thứ nhất, bổ sung nguyên tắc “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi (khoản 1 Điều 91). Đây là nguyên tắc định hướng cho cán bộ tiến hành tố tụng khi quyết định lựa chọn biện pháp xử lý cụ thể đối với người chưa thành niên, nhằm tìm ra biện pháp phù hợp nhất đối với các em. Nội dung của nguyên tắc này là đòi hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân, khi tiến hành một hoạt động liên quan đến việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội cần bảo đảm rằng quyết định đó là tốt nhất cho trẻ em trong mối quan hệ hài hòa với các lợi ích khác cũng như bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật.
Thứ hai, trên cơ sở kế thừa quy định tại khoản 2 Điều 69 của BLHS năm 1999 về miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên, khoản 2 Điều 91 của BLHS năm 2015 quy định người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục:
- Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này;
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật tức là phạm tội rất nghiêm trọng thuộc một trong 29 tội danh mà BLHS năm 2015 quy định đối tượng này phải chịu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
- Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án.
Như vậy, so với BLHS 1999, khoản 2 Điều 91 BLHS 2015 đã mở rộng đối tượng được miễn trách nhiệm hình sự đối với cả người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, quy định cụ thể điều kiện miễn trách nhiệm hình sự, đồng thời bổ sung quy định về việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với các em được miễn trách nhiệm hình sự nhằm bảo đảm tính khả thi cũng như hiệu quả áp dụng của chế định này.
Một số điểm cần lưu ý về miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91:
Một là, việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục có thể được áp dụng ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình tố tụng đối với vụ án, bất kể ở giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, hay xét xử và do cơ quan tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ việc có thẩm quyền áp dụng. Để bảo đảm lợi ích tốt nhất đối với người chưa thành niên, sớm đưa các em ra khỏi vòng tố tụng, cần xem xét, áp dụng miễn trách nhiệm hình sự càng sớm càng tốt.
Hai là, quy định này không loại trừ việc người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 của BLHS năm 2015 khi họ có đủ điều kiện quy định tại Điều này. Một điểm khác biệt giữa hai chế định miễn trách nhiệm hình sự này là miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 29 đồng nghĩa với việc trả tự do hoàn toàn cho người được miễn trách nhiệm hình sự, trong khi đó, người được miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91 phải chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức trong một thời hạn nhất định tuỳ từng trường hợp cụ thể. Do đó, chỉ miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của BLHS năm 2015.
Ba là, điểm b khoản 2 Điều 91 quy định đối tượng được miễn trách nhiệm hình sự là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng trừ một số trường hợp được liệt kê cụ thể tại điểm này.
Thứ ba, khoản 4 và khoản 5 Điều 69 của BLHS năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng tiếp cận phù hợp hơn trong chính sách xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em khẳng định nguyên tắc: “Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em… phải là biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”. Như vậy, cách tiếp cận của Công ước trong việc áp dụng chế tài đối với người chưa thành niên là ưu tiên áp dụng các biện pháp không giam giữ. Các biện pháp mang tính giam giữ và hình phạt tù chỉ được áp dụng khi không còn cách nào khác. Tuy nhiên, cách quy định tại khoản 4 Điều 69 của BLHS năm 1999 "Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này" thì lại thể hiện theo hướng ngược lại, nghĩa là trước tiên Toà án phải cân nhắc việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, chỉ trong trường hợp xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt thì mới áp dụng biện pháp tư pháp - với tính chất là những biện pháp thay thế hình phạt.
Khoản 4 Điều 91 của BLHS năm 2015 đã thể hiện lại nguyên tắc này theo hướng phù hợp hơn với tinh thần của Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em, theo đó, khi xét xử người dưới 18 tuổi, Tòa án trước hết phải cân nhắc khả năng áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc khả năng áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với các em và chỉ khi xét thấy việc áp dụng các biện pháp này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa thì mới áp dụng hình phạt đối với các em. Đồng thời, khoản 6 của điều này cũng quy định rõ Toà án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa và với thời hạn thích hợp ngắn nhất (khoản 6 Điều 91).
2. Về các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự
Khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999 quy định việc miễn trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng mà gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục. Tuy nhiên, chế định này cũng bộc lộ nhiều bất cập, ví dụ: thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng, cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục cũng như vai trò của cơ quan, tổ chức, cá nhân tại cộng đồng, các biện pháp hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, trên thực tế việc miễn trách nhiệm hình sự đồng nghĩa với việc trả tự do vô điều kiện mà không áp dụng bất kỳ các biện pháp giáo dục, phòng ngừa nào, điều này dẫn đến một thực tế là người chưa thành niên có thể tiếp tục tái phạm. Đây là lý do của việc hạn chế áp dụng chế định này trong thực tiễn.
Khắc phục những bất cập này, đồng thời thực hiện chủ trương nhân đạo hóa, tăng tính hướng thiện trong chính sách xử lý hình sự, nhất là đối với đối tượng cần bảo vệ đặc biệt là người chưa thành niên theo hướng sớm đưa các em ra khỏi vòng tố tụng khi có điều kiện để tránh những tác động tiêu cực không cần thiết, BLHS năm 2015 bổ sung một mục (Mục 2) với 04 điều quy định về 03 biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi trong trường hợp các em được miễn trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 91, trong đó, có 02 biện pháp hoàn toàn mới là khiển trách và hòa giải tại cộng đồng, còn 01 biện pháp là giáo dục tại xã, phường thị trấn được chuyển từ biện pháp tư pháp (theo BLHS năm 1999) thành một trong những biện pháp giám sát, giáo dục khi được miễn trách nhiệm hình nhằm tăng khả năng áp dụng các biện pháp có lợi hơn cho người chưa thành niên trong thực tiễn. Đây là các biện pháp mang tính giáo dục, phòng ngừa được áp dụng nhằm mục đích chính là giúp cho các em nhận rõ được lỗi lầm, có thái độ ăn năn hối cải, khắc phục sai phạm.
Cụ thể như sau:
Điều 92. Điều kiện áp dụng
Theo quy định tại Điều 92, để áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự thì ngoài các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 91 và các Điều 93, 94, 95 của BLHS bắt buộc phải có sự đồng ý của người đó hoặc của người đại diện hợp pháp của họ về việc áp dụng một trong các biện pháp pháp giám sát, giáo dục này. Bởi biện pháp giám sát, giáo dục được áp dụng đặt ra nhiều nghĩa vụ cho người được miễn trách nhiệm hình sự, vì vậy, cần phải có sự đồng ý của họ trước khi ra quyết định áp dụng.
Điều 93. Khiển trách
Khiển trách là một trong ba biện pháp giám sát, giáo dục có thể được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi được miễn trách nhiệm hình sự nhằm giúp họ nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả gây ra đối với cộng đồng, xã hội và nghĩa vụ của họ để sửa chữa lỗi lầm, khắc phục hậu quả và cải tạo để trở thành người có ích. Điều 93 quy định việc áp dụng biện pháp khiển trách như sau:
Thứ nhất, về đối tượng áp dụng: Khiển trách chỉ áp dụng đối với: (1) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của BLHS; (2) người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án.
Thứ hai, vthẩm quyền, thủ tục áp dụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng và thực hiện việc khiển trách. Việc khiển trách đối với người phạm tội phải có sự chứng kiến của cha mẹ hoặc người đại diện hợp pháp của người phạm tội.
Thứ ba, về nghĩa vụ của người bị khiển trách: Để tăng cường hiệu quả phòng ngừa tái phạm, khoản 3 Điều 93 quy định cụ thể các nghĩa vụ mà người bị khiển trách phải thực hiện như tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham giá các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp. Thời gian thực hiện các nghĩa vụ này từ 3 tháng đến 01 năm tuỳ từng trường hợp cụ thể.
Điều 94. Hoà giải tại cộng đồng
Điều 94 quy định về điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng cũng như nghĩa vụ của người được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng.
Thứ nhất, về đối tượng áp dụng: Hòa giải chỉ áp dụng đối với: (1) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng  hoặc tội nghiêm trọng theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của BLHS; (2) người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của BLHS.
Thứ hai, vthẩm quyền, thủ tục áp dụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng và phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc hòa giải tại cộng đồng khi người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự.
Thứ ba, về nghĩa vụ của người dược áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng: Người được áp dụng biện pháp hòa giải tại cộng đồng phải thực hiện các nghĩa vụ sau: xin lỗi người bị hại và bồi thường thiệt hại; tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.
Điều 95. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Điều 95 quy định điều kiện, thẩm quyền, thủ tục áp dụng và nghĩa vụ của người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Thứ nhất, về đối tượng áp dụng: Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng đối với: (1) người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 của BLHS; (2) người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 91 của BLHS.
Thứ hai, về thẩm quyền, thủ tục áp dụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đang tiến hành tố tụng đối với vụ án có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn với thời hạn từ 01 năm đến 02 năm và giao người được miễn trách nhiệm hình sự cho Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức việc giám sát, giáo dục.
Thứ ba, về nghĩa vụ của người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn: Người được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải thực hiện các nghĩa vụ: chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động; chịu sự giám sát, giáo dục của gia đình, xã, phường, thị trấn; không đi khỏi nơi cư trú khi không được phép; tuân thủ pháp luật, nội quy, quy chế của nơi cư trú, học tập, làm việc; trình diện trước cơ quan có thẩm quyền khi được yêu cầu; tham gia các chương trình học tập, dạy nghề do địa phương tổ chức, tham gia lao động với hình thức phù hợp.
Thứ tư, về việc chấm dứt thời hạn giám sát, giáo dục: Để khuyến khích người được giám sát, giáo dục cải tạo tốt, khoản 3 Điều 95 của BLHS quy định trường hợp người được giáo dục đã chấp hành một phần hai thời hạn, có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của Ủy ban nhân dân cấp xã được giao trách nhiệm quản lý, giáo dục, cơ quan đã áp dụng biện pháp này có thể quyết định chấm dứt thời hạn giám sát, giáo dục.
3. Về biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng
Mục 3 gồm 2 điều (Điều 96 và Điều 97) quy định về áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và việc chấm dứt trước thời hạn biện pháp này. Theo BLHS năm 2015 thì chỉ có 01 biện pháp tư pháp, đồng thời tên biện pháp tư pháp này được đổi từ "đưa vào trường giáo dưỡng" trong BLHS năm 1999 thành "giáo dục tại trường giáo dưỡng" trong BLHS năm 2015 cho phù hợp hơn.
Về bản chất của biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, điều kiện áp dụng, thủ tục áp dụng, hậu quả pháp lý cũng như việc chấm dứt trước thời hạn biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng cơ bản được giữ nguyên như quy định của BLHS 1999 về biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.
4. Về hệ thống hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Mục 4 gồm 04 điều (từ Điều 98 đến Điều 101) quy định về các hình phạt áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Về cơ bản, các quy định này của BLHS năm 2015 không có nhiều thay đổi so với quy định của BLHS 1999.
 Riêng hình phạt cải tạo không giam giữ (Điều 100) đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định cụ thể hóa và mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt này đối với cả trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý và trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý nhằm tăng cường khả năng áp dụng chế tài không tước tự do đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
5. Về việc quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt, xóa án tích
Nội dung sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS về quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt và xóa án tích tập trung vào các điều khoản sau đây:
Điều 102. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
BLHS năm 1999 chưa có quy định đặc thù về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt đối với người chưa thành niên, do đó dẫn đến sự không thống nhất trong quá trình áp dụng. Để góp phần khắc phục vướng mắc, bất cập này trong thực tiễn, cùng với việc sửa đổi, bổ sung quy định về chuẩn bị phạm tội (Điều 17), BLHS năm 2015 bổ sung 01 điều (Điều 102) quy định về việc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, cụ thể:
Thứ nhất, quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội:
- Mức hình phạt đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội: Khoản 2 Điều 102 quy định mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá 1/3 mức hình phạt mà điều luật cụ thể quy định đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội.
Ví dụ: theo khoản 3 Điều 123. Tội giết người thì người chuẩn bị phạm tội này sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Như vậy, trường hợp người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà chuẩn bị phạm tội này thì mức phạt cao nhất đối với họ không được quá 20 tháng tù.
- Mức hình phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chuẩn bị phạm tội: Khoản 2 Điều 102 quy định mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chuẩn bị phạm tội không quá 1/2 mức hình phạt mà điều luật cụ thể quy định đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội.
Ví dụ: theo khoản 3 Điều 123. Tội giết người thì người chuẩn bị phạm tội này sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Như vậy, trường hợp người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi mà chuẩn bị phạm tội này thì mức phạt cao nhất đối với họ không được quá 30 tháng tù.
Thứ hai, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt
- Mức hình phạt đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt: Khoản 3 Điều 102 quy định mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá 1/3 mức hình phạt cao nhất quy định có thể áp dụng đối với đối tượng này.
Ví dụ: một người 15 tuổi thực hiện hành vi cướp tài sản quy định khoản 3 Điều 168. Mức hình phạt cao nhất của khung này là 20 năm tù, như vậy, theo quy định tại Điều 101 về hình phạt tù có thời hạn, thì mức hình phạt cao nhất trong trường hợp phạm tội hoàn thành đối với người 15 tuổi là không quá 10 năm (không quá 1/2 mức mà điều luật quy định), và do đó, đối với trường hợp người 15 tuổi phạm tội cướp chưa đạt quy định tại khoản 3 Điều 168 thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với họ không quá 40 tháng tù giam.
- Mức hình phạt đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt: Khoản 3 Điều 102 quy định mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi không quá 1/2 mức phạt cao nhất có thể áp dụng đối với đối tượng này.
Ví dụ: một người 17 tuổi thực hiện hành vi cấu thành tội cướp tài sản quy định khoản 3 Điều 168. Mức hình phạt cao nhất của khung này là 20 năm tù, như vậy, theo quy định tại Điều 101 về hình phạt tù có thời hạn, thì mức hình phạt cao nhất trong trường hợp phạm tội hoàn thành đối với người 17 tuổi là không quá 15 năm (không quá 3/4 mức mà điều luật quy định), và do đó, đối với trường hợp người 17 tuổi phạm tội cướp chưa đạt quy định tại khoản 3 Điều 168 thì mức hình phạt cao nhất áp dụng đối với họ không quá 7 năm 6 tháng tù.
Điều 103. Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội
Điều 75 BLHS 1999 quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội có một số hạn chế, bất cập: một là, chỉ quy định nguyên tắc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội có tội thực hiện trước khi người đó 18 tuổi, có tội thực hiện sau khi người đó 18 tuổi mà chưa có quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp các tội đều thực hiện trước khi người đó 18 tuổi (trường hợp các tội được thực hiện khi người đó đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và trường hợp có tội thực hiện khi người đó đủ 14 đến dưới 16, có tội thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi); hai là, khái niệm tội nặng nhất quy định tại Điều 75 rất khó xác định trên thực tế, gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình tổng hợp hình phạt.
Để góp phần khắc phục bất cập, hạn chế này, Điều 103 của BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội theo hướng:
Thứ nhất, bổ sung quy định về nguyên tắc chung về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, theo đó Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều 55. Nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm. Nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội và 12 năm đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội.
Thứ hai, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi người phạm tội đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi người phạm tội đủ 16 tuổi, theo nguyên tắc:
- Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này.
- Nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này.
Thứ ba, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi người phạm tội đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi người phạm tội đủ 18 tuổi, theo nguyên tắc:
- Nếu mức hình phạt Toà án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều này.
- Nếu mức hình phạt Toà án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội.
Điều 104. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
Đây là điều luật mới được bổ sung quy định về nguyên tắc áp dụng các quy định của Bộ luật để tổng hợp hình phạt trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước hoặc sau khi có bản án này. Đồng thời, điều luật cũng quy định nguyên tắc xác định hình phạt chung là tương tự cách thức tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội quy định tại Điều 103 nói trên.
Điều 106. Tha tù trước thời hạn có điều kiện
Trên cơ sở chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện quy định tại Điều 66 của BLHS năm 2015, Điều 106 quy định các điều kiện áp dụng chế định này đối với người bị kết án là người dưới 18 tuổi, gồm: (1) phạm tội lần đầu; (2) có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; (3) đã chấp hành được 1/3 thời hạn phạt tù; (4) có nơi cư trú rõ ràng.
Điều 107. Xóa án tích
Điều 107 của BLHS năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung về xoá án tích đối với người chưa thành niên như sau:
Thứ nhất, quy định rõ 03 trường hợp người chưa thành niên bị kết án được coi là không có án tích: (1) người bị kết án là người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi; (2) người bị kết án là người đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do vô ý; (3) người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng (khoản 1).
Thứ hai, quy định rõ người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được đương nhiên xoá án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới (khoản 2).
PHẦN THỨ HAI. CÁC TỘI PHẠM
 
CHƯƠNG XIII. CÁC TỘI XÂM PHẠM AN NINH QUỐC GIA
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Các tội xâm phạm an ninh quốc gia được quy định từ Điều 108 đến Điều 122 gồm 15 điều luật (bằng số điều luật của BLHS năm 1999 quy định về các tội phạm này). Về cơ bản chính sách hình sự về các tội xâm phạm an ninh quốc gia theo BLHS năm 2015 không thay đổi so với BLHS năm 1999.  Có 03 điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản tại chương này:
Một là, BLHS năm 2015 không có điều luật riêng quy định về tội hoạt động phỉ như Điều 83 của BLHS năm 1999. Tuy nhiên, cần hiểu rằng, BLHS năm 2015 không phi tội phạm hóa đối với hành vi hoạt động phỉ mà hành vi phạm tội này đã được quy định trong cấu thành của một số tội phạm cụ thể, ví dụ như: tội bạo loạn (Điều 112), tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 113)... Theo Điều 112 BLHS năm 2015 thì người nào hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực có tổ chức nhằm chống chính quyền nhân dân xảy ra ở bất cứ đâu, thành phố, đồng bằng, rừng núi, hải đảo... đều là hành vi thuộc mặt khách quan của tội bạo loạn và người thực hiện hành vi vi phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này nếu thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Theo Điều 113 BLHS năm 2015, hành vi xâm phạm tính mạng cán bộ, công chức hoặc người khác nhằm chống chính quyền nhân dân xảy ra ở bất cứ đâu đều là hành vi thuộc mặt khách quan của tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân và người thực hiện hành vi vi phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này nếu thỏa mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Vì vậy, Nghị quyết số 109/2015/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 quy định đối với hành vi hoạt động phỉ quy định tại Điều 83 BLHS năm 1999 xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định của Tòa án, thì không được căn cứ vào việc BLHS năm 2015 không quy định tội danh hoạt động phỉ để kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về tội hoạt động phỉ hoặc đã chấp hành xong bản án thì vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016 để giải quyết; nếu sau thời điểm 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về tội hoạt động phỉ quy định tại Điều 83 của Bộ luật hình sự năm 1999 mà áp dụng quy định của BLHS năm 2015 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo tội danh tương ứng.
Hai là, tách Điều 91 BLHS năm 1999 quy định tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân thành 02 điều luật: Điều 120. Tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân và Điều 121. Tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân. Việc tách điều luật này để phân hóa trách nhiệm hình sự phù hợp với tích chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của từng tội phạm.
Ba là, bổ sung một khung mới trong các điều luật để quy định về việc xử lý đối với trường hợp “chuẩn bị phạm tội”, theo đó, người chuẩn bị phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia đều phải chịu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù cao nhất đến 05 năm. Mức chế tài này giảm hơn nhiều so với BLHS năm 1999 (các Điều 17 và 52), theo đó, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội là không quá hai mươi năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định.
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Điều 108. Tội phản bội Tổ quốc
So với Điều 78 BLHS năm 1999, Điều 108 BLHS năm 2015 có hai điểm mới:
- Sửa cụm từ “lực lượng quốc phòng” thành “tiềm lực quốc phòng, an ninh” để mở rộng đối tượng bảo vệ của tội phạm này. Lý do của việc sửa đổi này là:
Thứ nhất, bảo vệ Tổ quốc tức là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó, theo quy định của pháp luật hiện hành, bên cạnh Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cũng có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Hành vi xâm hại đến tiềm lực an ninh cũng ảnh hưởng đến sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, xâm hại đến Tổ quốc.
Thứ hai, trong điều kiện hiện nay với việc ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào hoạt động quốc phòng, an ninh, sức mạnh quốc phòng, an ninh không chỉ là sức mạnh của các yếu tố vật chất là con người, vũ khí, phương tiện và các cơ sở vật chất khác mà còn là các yếu tố phi vật chất như khoa học, kỹ thuật, công nghệ... phục vụ cho hoạt động quốc phòng, an ninh. Do đó, đã sửa “lực lượng” thành “tiềm lực” cho đầy đủ hơn, nâng cao hiệu quả bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
- Bổ sung khoản 3 quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội, theo đó, người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 113. Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân
Điều luật có những điểm sửa đổi, bổ sung như sau:
- Bổ sung vào khoản 2 các hành vi phạm tội: Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố; cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố.
- Bổ sung tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế là khách thể bảo vệ, đối tượng tác động của tội phạm này.
Việc bổ sung các nội dung trên để phù hợp với Luật phòng, chống khủng bố năm 2013, các điều ước quốc tế về chống khủng bố, tài trợ khủng bố mà Việt Nam là thành viên và đáp ứng yêu cầu phòng, chống khủng bố đặt ra trong thực tế những năm gần đây.
- Bổ sung khoản 5 quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội, theo đó, người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 115. Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội
Điều luật có những điểm sửa đổi, bổ sung như sau:
- Giảm hình phạt đối với trường hợp phạm tội thuộc khoản 1 (khoản 1 Điều 86 BLHS năm 1999 quy định hình phạt tù từ 07 năm đến 20 năm, nay khoản 1 Điều 115 quy định phạt tù từ 07 năm đến 15 năm).
- Bổ sung khoản 3 quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội, theo đó, người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Điều 116. Tội phá hoại chính sách đoàn kết
Điều luật có những điểm sửa đổi, bổ sung như sau:
- Bổ sung hành vi gây ly khai dân tộc, gây chia rẽ giữa người theo các tôn giáo khác nhau; sửa quy định gây chia rẽ nhân dân với các tổ chức xã hội thành gây chia rẽ nhân dân với các tổ chức chính trị - xã hội. Việc sửa đổi, bổ sung nêu trên để phù hợp thực tế diễn biến của loại hành vi phạm tội này, đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm.
- Nâng mức hình phạt tối thiểu của khoản 1 là 05 năm lên thành 07 năm.
- Bổ sung khoản 3 quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội, theo đó, người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm tù.         
Điều 117. Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Điều luật có những điểm sửa đổi, bổ sung như sau:
- Sửa tên điều luật: theo Điều 88 BLHS năm 1999, tên của điều luật này là Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nay được sửa thành Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nội dung điều luật được sửa quy định cụ thể hơn và mở rộng hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm (theo điều 88 BLHS năm 1999, hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này là tuyên truyền, làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nay theo Điều 117 BLHS năm 2015, hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này là làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Việc sửa đổi nêu trên để bảo đảm tính rõ ràng, minh bạch của điều luật và quy định đầy đủ hơn loại hành vi phạm tội xảy ra trên thực tế, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống Đảng, Nhà nước ta, đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm.
- Bổ sung khoản 3 quy định về trường hợp chuẩn bị phạm tội, theo đó, người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
 
CHƯƠNG XIV. CÁC TỘI XÂM PHẠM TÍNH MẠNG, SỨC KHỎE, NHÂN PHẨM, DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người BLHS năm 2015 quy định gồm 34 Điều (từ Điều 123 đến Điều 156) trong đó bổ sung mới 4 điều, sửa đổi 30 điều. Những nội dung mới cơ bản của Chương gồm:
- Bổ sung tình tiết cố ý gây thương tích bằng việc sử dụng axit hoặc hóa chất khác;
- Bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính đối với một số tội phạm về gây thương hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
- Mở rộng nội hàm khái niệm giao cấu quy định tại các tội xâm hại tình dục là hành vi quan hệ tình dục khác. Sửa đổi từ ngữ tỷ lệ thương tật thành tỷ lệ tổn thương cơ thể; đối với nhiều người thành đối với 2 người trở lên; phạm tội nhiều lần thành phạm tội 2 lần trở lên; đối với phụ nữ có thai thành đối với phụ nữ mà biết rõ là có thai; đối với trẻ em thành đối với người dưới 16 tuổi.
- Điều chỉnh mức hình phạt của một số tội để phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và bổ sung một số tình tiết mà luật cũ quy định có nhiều bất cập, hoặc chưa quy định dẫn đến khó áp dụng trong thực tiễn.
- Sửa đổi tội mua bán người và tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em. Theo quy định của BLHS năm 1999 có sự khác biệt rõ ràng giữa yếu tố cấu thành của tội buôn bán người theo Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người bổ sung Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia với yếu tố cấu thành của tội mua bán người, mua bán trẻ em theo quy định tại BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về mặt hành vi, thủ đoạn, mục đích. Sự khác biệt này dẫn đến tình trạng có trường hợp theo pháp luật Việt Nam thì bị coi là mua bán người hoặc mua bán trẻ em và phải bị trừng trị, nhưng theo Nghị định thư về phòng, chống buôn bán người thì không cấu thành tội phạm và ngược lại. Do vậy, BLHS năm 2015 sửa đổi tội mua bán người và tội mua bán trẻ em để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và đáp ứng yêu cầu của Nghị định thư.
- Tách tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120 BLHS 1999) thành các tội danh riêng biệt để bảo đảm việc phân hóa trách nhiệm hình sự.
- Bổ sung 2 tội danh mới: Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147) và mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người (Điều 154).
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Điều 123. Tội giết người 
- Sửa một số từ ngữ: nhiều người thành 2 người trở lên; trẻ em thành người dưới 16 tuổi; tội thành tội phạm).
- Bổ sung khoản 3 mới quy định: Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 124. Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ
- Sửa đổi tên tội danh thành "tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ” cho phù hợp với nội dung quy định trong điều luật, bởi lẽ, theo Điều 94 BLHS năm 1999 thì tội danh này có tên là “Giết con mới đẻ”, nhưng trong cấu thành cơ bản lại quy định 02 hành vi khác nhau là giết con mới đẻvứt bỏ con mới đẻ. Việc sửa đổi trên đã khắc phục điều này
- Điều 94 BLHS năm 1999 quy định ghép hai hành vi giết con mới đẻ và vứt con mới đẻ trong cùng một khoản và chung mức hình phạt. Nay sửa đổi thành 2 khoản để bảo đảm sự phân hóa trách nhiệm và chính sách xử lý, Khoản 1 quy định hành vi giết con mới đẻ có mức hình phạt cao hơn (phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm).
- BLHS năm 1999 không quy định rõ khái niệm con mới đẻ mà khái niệm này được hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 của HĐTP-TANDTC. BLHS năm 2015 (Điều 124) đã quy định rõ con mới đẻ là con trong 07 ngày tuổi.
Cần lưu ý, đây là điều luật quy định giảm nhẹ đặc biệt trách nhiệm hình sự về hành vi giết người của người mẹ, là chính sách luật pháp của Nhà nước ta đối với phụ nữ, chứ không phải trẻ mới đẻ không được bảo vệ như người thông thường.
Điều 125. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
 Khoản 2 sửa đổi quy định “giết nhiều người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” thành “Phạm tội đối với 02 người trở lên.”
Điều 126. Tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
- Bổ sung tên điều luật do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.
- Quy định bổ sung hành vi giết người do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội (BLHS năm 1999 chỉ quy định giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng).
- Khoản 2 sửa đổi quy định “giết nhiều người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” thành “Phạm tội đối với 02 người trở lên.”
Điều 127. Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ
- Sửa đổi tình tiết chết nhiều người thành 02 người trở lên;
- Sửa đổi trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác bằng: Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ biết rõ là có thai.
- Tăng mức hình phạt so với BLHS năm 1999: Khoản 1 từ 05 đến 10 năm; Khoản 2 từ 08 đến 15 năm.
Điều 128. Tội vô ý làm chết người
- Khoản 1: giảm mức hình phạt khởi điểm so với BLHS năm 1999 (cải tạo không giam giữ đến 03 năm, phạt tù từ 01 đến 05 năm).
- Khoản 2: sửa đổi tình tiết chết nhiều người thành chết 02 người trở lên.
Điều 129. Tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính
- Khoản 1: giảm mức hình phạt so với BLHS năm 1999 (phạt tù từ 01 đến 05 năm).
- Khoản 2: Sửa đổi tình tiết nhiều người thành 02 người trở lên.
Điều 130. Tội bức tử
- Khoản 2: Sửa đổi tình tiết nhiều người thành 02 người trở lên; bổ sung tình tiết định khung đối với người dưới 16 tuổi và phụ nữ biết là có thai.
Điều 131. Tội xúi giục hoặc giúp người khác tự sát
- Khoản 1: sửa đổi quy định rõ hơn các hành vi cụ thể và thay từ tự sát bằng cụm từ "tự tước đoạt tính mạng"; BLHS năm 1999 quy định hành vi xúi giục và giúp người khác tự sát. BLHS năm 2015 quy định cụ thể các hành vi này theo hướng như sau: Kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác tự tước đoạt tính mạng của họ; Tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần cho người khác tự tước đoạt tính mạng của họ. Mục đích của việc sửa đổi là tăng cường tính minh bạch của pháp luật và để việc xử lý phù hợp với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội.
- Khoản 2: thay đổi tình tiết Làm nhiều người tự sát thành làm 02 người trở lên tự sát.
Điều 132. Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng
Bổ sung khoản 3 mới quy định: Phạm tội dẫn đến hậu quả 02 người trở lên chết, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Đây là quy định bổ sung trường hợp hậu quả chết nhiều người mà điều luật cũ chưa quy định.
Điều 133. Tội đe dọa giết người
- Khoản 1: tăng hình phạt mức khởi điểm (BLHS năm 1999: cải tạo không giam giữ đến 02 năm, tù 03 tháng đến 03 năm, BLHS năm 2015: cải tạo không giam giữ đến 03 năm, tù 06 tháng đến 03 năm).
- Khoản 2: sửa đối với nhiều người thành 02 người trở lên, đối với trẻ em thành người dưới 16 tuổi. Bổ sung mới điểm b. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
- Luật cũ thiết kế 4 khoản 10 tình tiết, luật mới sửa đổi thành 7 khoản 17 tình tiết, theo hướng cụ thể hóa các hành vi theo các mức độ tổn hại gây ra và các hình phạt cũng được quy định tương ứng với từng mức độ thiệt hại để việc áp dụng được rõ ràng và sát với hành vi phạm tội, trong đó:
+ Khoản 1 quy định 14 hành vi (BLHS năm 1999 quy định 10 hành vi). Trong đó 2 hành vi được tách ra từ quy định ghép (c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người thành; d) Phạm tội 02 lần trở lên; đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên; i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm thành m) Có tính chất côn đồ; n) Tái phạm nguy hiểm). Bổ sung 2 tình tiết mới (b) Dùng axit hoặc hóa chất nguy hiểm và i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn). Thay đổi một số từ ngữ: tỷ lệ thương tật  thành tỷ lệ tổn thương cơ thể. (Theo Từ điển tiếng Việt, Thương tật thành vết thương đã thành tật; tổn thương thành hư hại, mất mát không còn như cũ. Như vậy việc thay đổi thương tật thành tổn thương, phần nào đã giải quyết được vướng mắc trong các trường hợp sử dụng tỷ lệ thương tích tạm thời hay vĩnh viễn); Nhiều lần thành 02 lần trở lên; nhiều người thành 02 người trở lên; Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai thành Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai; Để cản trở người thi hành công vụ thành Đối với người đang thi hành công vụ. Bổ sung một số tình tiết định khung trong cùng một điểm k. Phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù, đang bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
+ Khoản 2 quy định giảm hình phạt, (BLHS năm 1999 phạt tù từ 02 – 07 năm, BLHS năm 2015: từ 02 – 05 năm).
+ Sửa đổi giảm hình phạt ở một số khung tăng nặng: Khoản 3 quy định giảm hình phạt (BLHS năm 1999 phạt tù 05 – 15 năm, BLHS năm 2015: 04 – 07 năm); Khoản 4 quy định giảm hình phạt (BLHS năm 1999 phạt tù 15 – 20 năm – chung thân; BLHS năm 2015: 07 – 12 năm).
+ Khoản 5 quy định cụ thể các hành vi phạm tội tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
- Khoản 6 quy định 3 tình tiết: Làm chết nhiều người, gây thương tích cho nhiều người và gây thương tích vào vùng mặt mà tổn thương trên 61%. Thực tiễn cho thấy ngoài tỷ lệ tổn thương cơ thể, những trường hợp bị hủy hoại diện mạo đã để lại cho nạn nhân hậu quả rất nghiêm trọng, gây đau đớn về thể xác và tinh thần suốt đời cho nạn nhân. Do vậy, Điều luật này đã bổ sung tình tiết định khung tăng nặng này.
Điều 135. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
- Khoản 1 sửa đổi theo hướng bổ sung hình phạt chính là hình phạt tiền (từ 10 triệu – 50 triệu), bãi bỏ quy định hình phạt tù và hình phạt cảnh cáo.
- Khoản 2 điều chỉnh mức hình phạt theo hướng nhẹ hơn (BLHS năm 1999 phạt tù từ 01 đến 05 năm, BLHS năm 2015 phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm) và thay đổi từ ngữ: Đối với nhiều người thành đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; tỷ lệ thương tật thành tỷ lệ tổn thương cơ thể. Việc sửa đổi này để phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, khắc phục bất cập, khó khăn trong thực tiễn.
Điều 136. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
- Bổ sung tên điều luật “hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội”.
- Khoản 1: bãi bỏ hình phạt cảnh cáo, phạt tù; bổ sung hình phạt tiền, điều chỉnh mức hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Khoản 2: sửa đổi quy định cụ thể các hành vi gây thương tích và tỷ lệ tổn thương cụ thể mà điều luật cũ chưa quy định.
- Bổ sung khoản 3 quy định trường hợp dẫn đến chết người và trường hợp gây thương tích cho 02 người trở lên.
Điều 137. Tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ
- Khoản 1: sửa đổi quy định rõ hơn tỷ lệ tổn thương cơ thể tối đa (BLHS năm 1999 quy định tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên; BLHS năm 2015 sửa tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%), điều chỉnh mức hình phạt (BLHS năm 1999 quy định phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm; BLHS năm 2015 phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm).
- Khoản 2: sửa đổi quy định cụ thể các hành vi gây thương tích và tỷ lệ tổn thương cụ thể, mà điều luật cũ chưa quy định.
Điều 138. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người  khác
- Khoản 1 sửa đổi quy định rõ hơn tỷ lệ tổn thương cơ thể tối đa, (BLHS năm 1999 quy định tỷ lệ thương tật  từ 31% trở lên, BLHS năm 2015 quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%), bổ sung hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
- Khoản 2 sửa đổi quy định cụ thể các hành vi gây thương tích và tỷ lệ tổn thương cụ thể mà BLHS năm 1999 chưa quy định như gây thương tích đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. Bỏ quy định cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề luật cũ quy định tại khoản 2.
- Bổ sung mới khoản 3 quy định hành vi  phạm tội đối với 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm.
Việc sửa đổi này là để phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, mà luật cũ quy định còn có bất cập, khó khăn, vướng mắc.
Điều 139. Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính
- Khoản 1 sửa đổi quy định rõ hơn tỷ lệ tổn thương cơ thể tối đa như Điều 138, bổ sung hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng và sửa mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm (BLHS năm 1999 chỉ quy định phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm).
- Bổ sung Khoản 2, gồm 2 điểm quy định cụ thể các hành vi gây thương tích và tỷ lệ tổn thương cụ thể, mà BLHS năm 1999 chưa quy định (như Điều 138).
- Khoản 3 quy định mới các hành vi gây thương tích và tỷ lệ tổn thương cụ thể.
Việc sửa đổi này là để phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, mà luật cũ quy định còn có bất cập, khó khăn, vướng mắc.
Điều 140. Tội hành hạ người khác
- Khoản 1 bổ sung hành vi làm nhục, bỏ hình phạt cảnh cáo điều chỉnh mức hình phạt cải tạo không giam giữ (BLHS năm 1999 quy định phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm, BLHS năm 2015 sửa: cải tạo không giam giữ đến đến 03 năm).
- Khoản 2 bổ sung thêm hành vi cụ thể (Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 11% trở lên) và sửa về từ ngữ: Trẻ em thành người dưới 16 tuổi; phụ nữ có thai thành phụ nữ mà biết là có thai; đối với nhiều người thành đối với 02 người trở lên.
Điều 141. Tội hiếp dâm
- Khoản 1 bổ sung mở rộng nội hàm khái niệm giao cấu thêm hành vi quan hệ tình dục khác. Do thực tiễn hiện nay thì cách thức giao cấu khá đa dạng và đặc biệt xuất hiện tình trạng ép buộc hoặc cưỡng bức quan hệ tình dục giữa những người cùng giới tính, nên việc mở rộng khái niệm giao cấu nhằm bảo vệ tốt hơn quyền bất khả xâm phạm về tình dục của cả nam, nữ và những người đồng giới.
- Khoản 2 sửa đổi tình tiết Phạm tội nhiều lần thành Phạm tội 02 lần trở lên; đối với nhiều người thành đối với 02 người trở lên; tỷ lệ thương tật thành tỷ lệ tổn thương cơ thể; bổ sung tình tiết Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
- Khoản 3 bổ sung tình tiết Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.
- Khoản 4 sửa từ ngữ Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi thành người từ đủ 16 tuổi.
Điều 142. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Sửa tên điều luật trẻ em thành người dưới 16 tuổi.
- Khoản 1: mô tả rõ hành vi khách quan là dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu để giải quyết vướng mắc luật cũ không mô tả rõ. Mở rộng khái niệm giao cấu đối với hành vi quan hệ tình dục khác.
- Khoản 2 bổ sung tình tiết Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; sửa từ ngữ Phạm tội nhiều lần  thành Phạm tội 02 lần trở lên; Đối  với nhiều người thành Đối với 02 người trở lên và điều chỉnh các tình tiết này từ Khoản 3 luật cũ sang Khoản 2 luật mới.
- Khoản 3 bổ sung các tình tiết Phạm tội đối với người dưới 10 tuổiGây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.
- Bỏ khoản 4 Điều 112 của BLHS năm 1999 "Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm tội hiếp dâm trẻ em…" vì đã điều chỉnh tại khoản khác.
Điều 143. Tội cưỡng dâm
-  Khoản 1 bổ sung hành vi quan hệ tình dục khác.
- Khoản 2 sửa từ ngữ Cưỡng dâm nhiều lần thành Cưỡng dâm 02 lần trở lên; Cưỡng dâm nhiều người thành Cưỡng dâm 02 người trở lên và bổ sung tình tiết Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
- Khoản 3 tăng mức hình phạt khởi điểm (BLHS năm 1999 quy định phạt tù 07 – 18 năm, BLHS năm 2015: 10 – 18 năm). Bổ sung tình tiết Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.
Điều 144. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Sửa tên điều luật trẻ em thành người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Khoản 1 sửa nêu rõ dấu hiệu của hành vi khách quan Người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi đang ở trong tình trạng lệ thuộc mình hoặc trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu hoặc miễn cưỡng thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác.
- Khoản 2 bổ sung tình tiết Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; sửa tình tiết Phạm tội nhiều lần thành Phạm tội 02 lần trở lên, Đối với nhiều người thành Đối với 02 người trở lên và chuyển quy định từ Khoản 3 luật cũ sang Khoản 2.
- Khoản 3 bổ sung tình tiết Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.
Điều 145. Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Sửa tên điều luật trẻ em thành người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi và bổ sung hành vi quan hệ tình dục khác.
- Khoản 1 sửa từ ngữ đã thành niên thành đủ 18 tuổi trở lên và bổ sung hành vi quan hệ tình dục khác.
- Khoản 2 sửa từ ngữ nhiều lần, nhiều người; bổ sung tình tiết Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh.
- Bổ sung khoản 4: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 146. Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi
- Sửa tên điều luật dâm ô đối với trẻ em thành dâm ô đối với người dưới 16 tuổi.
- Khoản 1 sửa từ ngữ và nêu rõ hơn hành vi khách quan: người đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác.
- Khoản 2 bổ sung tình tiết Phạm tội có tổ chức; sửa tình tiết nhiều lần, nhiều người thành 02 lần, 02 người như các Điều khác; sửa Gây hậu quả nghiêm trọng thành Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
- Khoản 3 sửa nêu rõ mức độ hậu quả cụ thể Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; Làm nạn nhân tự sát. Luật cũ chỉ nêu Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
Điều 147. Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (mới)
Đây là Điều luật mới quy định gồm 3 khoản, với khung hình phạt từ 06 tháng đến 12 năm. Điều luật bổ sung một số hành vi có tính chất nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa được quy định trong BLHS cũ.
- Về chủ quan: Người phạm tội mong muốn người bị hại dưới 16 tuổi phải chứng kiến việc khiêu dâm hoặc trình diễn khiêu dâm. Vì vậy lỗi trong tội này là cố ý.
- Về khách quan: Hành vi của người phạm tội trong trường hợp này có thể là 1 trong 3 hành vi: Lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người dười 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc chứng kiến trình diễn khiêu dâm.
Về các tình tiết tăng nặng định khung gồm: Phạm tội có tổ chức; Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với 02 người trở lên; Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; Có mục đích thương mại; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; Tái phạm nguy hiểm thuộc Khoản 2 bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; Làm nạn nhân tự sát, thuộc Khoản 3 thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
Điều 148. Tội lây truyền HIV cho người khác
- Khoản 1 sửa nêu rõ hơn trừ trường hợp nạn nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục, để loại trừ trường hợp nạn nhân biết rõ tình trạng HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục.
- Khoản 2 sửa từ ngữ đối với nhiều người thành đối với 02 người trở lên; đối với người chưa thành niên thành đối với người dưới 18 tuổi.
Điều 149. Tội cố ý truyền HIV cho người khác
- Khoản 1 điều chỉnh mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm thành phạt tù từ 03 năm đến 07 năm;
- Khoản 2: điều chỉnh mức phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân thành phạt tù từ 07 năm đến 15 năm; sửa từ ngữ Đối với nhiều người thành đối với 02 người trở lên, Đối với người chưa thành niên thành đối với người dưới 18 tuổi; và bổ sung tình tiết Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
- Bổ sung Khoản 3 quy định: Đối với phụ nữ mà biết là có thai; Đối với 06 người trở lên; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; Làm nạn nhân tự sát, với khung hình phạt 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Điều 150. Tội mua bán người
- Khoản 1 sửa cấu thành cơ bản nêu rõ hành vi khách quan dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi... Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác; Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác... Điều chỉnh mức hình phạt (BLHS năm 1999 phạt tù từ 02 năm đến 07 năm, BLHS năm 2015: từ 05 năm đến 10 năm).
- Khoản 2 sửa theo hướng điều chỉnh các hành vi và mức hình phạt tương ứng (BLHS năm 1999 phạt tù từ 05 năm đến 20 năm; BLHS năm 2015 sửa thành phạt tù từ 08 năm đến 15 năm); bổ sung tình tiết: Vì động cơ đê hèn; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; sửa từ ngữ phạm tội nhiều lần; đối với nhiều người thành Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với từ 02 đến 05 người.
- Khoản 3 bổ sung một số tình tiết định khung: Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; Làm nạn nhân chết hoặc tự sát. Quy định mức hình phạt phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
- Khoản 4 sửa đổi tăng mức phạt tiền: BLHS năm 1999 phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm, BLHS năm 2015 sửa đổi thành phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 151. Tội mua bán người dưới 16 tuổi
BLHS năm 1999 quy định tội ghép là tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em (Điều 120). BLHS năm 2015 tách và quy định thành 03 tội danh độc lập: tội mua bán người dưới 16 tuổi; tội đánh tráo người dưới 01 tuổi và tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (các Điều 151, 152, 153) để có chính sách xử lý phù hợp hơn.
- Điều 151 được sửa đổi giống như Điều 150 về tội mua bán người, nhưng điều chỉnh tăng mức hình phạt: Khoản 1 BLHS năm 1999 quy định phạt tù từ 03 năm đến 10 năm, Khoản 1 BLHS năm 2015 quy định phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.
- Khoản 2 sửa các tình tiết giống Điều 150 và điều chỉnh mức hình phạt, BLHS năm 1999 quy định phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, BLHS năm 2015 quy định phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
- Khoản 3 mới được bổ sung quy định các tình tiết Có tổ chức; Có tính chất chuyên nghiệp; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; Đã lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân; Làm nạn nhân chết hoặc tự sát; Đối với 06 người trở lên; Tái phạm nguy hiểm, với mức hình phạt bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
- Khoản 4 Điều này kế thừa nội dung của Khoản 3 Điều 120 của BLHS năm 1999 nhưng điều chỉnh mức hình phạt, BLHS năm 1999 quy định phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. BLHS năm 2015 quy định phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 152. Tội đánh tráo người dưới 01 tuổi
Đây là tội được tách ra từ tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em quy định tại Điều 120 của BLHS năm 1999, đồng thởi, chỉ rõ đối tượng trẻ em bị đánh tráo là người dưới 01 tuổi. Điều này gồm 4 khoản với khung hình phạt tù thấp nhất là 02 năm và cao nhất là 12 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
- Về khách thể, tội phạm xâm phạm quyền tự do thân thể của trẻ em, quyền được quản lý, chăm sóc, giáo dục của trẻ em.
- Về mặt chủ quan, người phạm tội mong muốn đánh tráo người này bằng người khác. Vì vậy lỗi trong tội này là cố ý.
- Về mặt khách quan: Hành vi của người phạm tội trong trường hợp này hành vi tráo đổi trẻ em dưới 01 tuổi này bằng trẻ em khác một cách bất hợp pháp.
Việc đánh tráo có thể do chính bố mẹ đứa trẻ thực hiện nhưng cũng có thể do nhân viên y tế hoặc do người khác thực hiện một cách bất hợp pháp trong nhà hộ sinh, bệnh viện hoặc trên đường đưa đứa trẻ về phòng, về nhà... Hậu quả xảy ra là đứa trẻ bị đánh tráo và đã thoát khỏi sự quản lý của bố mẹ, người thân đứa trẻ.
Các tình tiết tăng nặng định khung, người phạm tội thuộc các trường hợp: Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp; Đối với người dưới 01 tuổi mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng; Phạm tội 02 lần trở lên thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm quy định tại Khoản 2. Các trường hợp Có tính chất chuyên nghiệp; Tái phạm nguy hiểm thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm quy định tại khoản 3 Điều này.
Điều 153. Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi
Đây là tội được tách ra từ tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em quy định tại Điều 120 của BLHS năm 1999. Điều này gồm 4 khoản với khung hình phạt tù thấp nhất là 3 năm, cao nhất là 15 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
- Về khách thể, tội phạm xâm phạm quyền tự do thân thể của trẻ em, quyền được quản lý, chăm sóc, giáo dục của trẻ em.
- Về mặt chủ quan: Người phạm tội mong muốn chiếm đoạt người dưới 16 tuổi. Vì vậy lỗi trong tội này là cố ý.
- Về mặt khách quan: Hành vi của người phạm tội trong trường hợp này là chiếm đoạt người dưới 16 tuổi bằng bất kỳ hình thức nào là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lén lút khi đứa trẻ đang ngủ, công nhiên khi đứa trẻ đang chơi hoặc rủ rê, lôi kéo lừa dối người dưới 16 tuổi theo người phạm tội để chiếm đoạt.
Tình tiết tăng nặng định khung, phạm tội thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp; đối với người mà mình có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng; đối với từ 02 người đến 05 người; phạm tội 02 lần trở lên; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên thuộc khoản 2 thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: có tính chất chuyên nghiệp; đối với 06 người trở lên; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; làm nạn nhân chết; tái phạm nguy hiểm thuộc khoản 3 thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.
Điều 154. Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người
Đây là tội phạm mới được bổ sung. Điều này được thiết kế 4 khoản với mức phạt thấp nhất là 3 năm tù, cao nhất là 20 năm tù hoặc tù chung thân. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
- Về khách thể, tội phạm xâm phạm sự an toàn đối với chức năng cơ thể sống của con người.
- Về mặt chủ quan: Lỗi trong trường hợp này là lỗi cố ý. Có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Người phạm tội có cố ý thực hiện hành vi phạm tội nhằm mua bán hoặc chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.
- Về mặt khách quan: Hành vi của người phạm tội là mua bán hoặc chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.
Về các tình tiết tăng nặng định khung, người phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Có tổ chức; Vì mục đích thương mại; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp; Đối với từ 02 người đến 05 người; Phạm tội 02 lần trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thuộc Khoản 2 thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Có tính chất chuyên nghiệp; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; Đối với 06 người trở lên; Gây chết người; Tái phạm nguy hiểm, thuộc Khoản 3 thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Tình tiết Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp, tình tiết này đòi phải là chủ thể đặc biệt, như bác sỹ, người trông coi nhà xác,….
Điều 155. Tội làm nhục người khác
- Khoản 1 bổ sung hình phạt tiền và sửa mức hình phạt "cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm" thành "phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm".
- Khoản 2 sửa mức hình phạt: phạt tù từ một năm đến ba năm thành: phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm; thay đổi từ ngữ nhiều lần, nhiều người; bổ sung hành vi Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
- Bổ sung mới Khoản 3 quy định tình tiết tăng nặng định khung Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; Làm nạn nhân tự sát, khung hình phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
Điều 156. Tội vu khống
- Khoản 1 quy định mở rộng hình phạt tiền, rút ngắn hình phạt tù (BLHS năm 1999 phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm, BLHS năm 2015 phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm). Bổ sung hành vi Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
- Khoản 2 rút ngắn khung hình phạt (BLHS năm 1999 phạt tù từ một năm đến bảy năm, BLHS năm 2015 phạt tù từ 01 năm đến 03 năm). Bổ sung hành vi Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tộiGây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%”; thay đổi từ ngữ nhiều người thành 2 người trở lên.
- Bổ sung mới Khoản 3 quy định các tình tiết tăng năng định khung Vì động cơ đê hèn; Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; Làm nạn nhân tự sát với khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
- Khoản 4 sửa mức hình phạt tiền (BLHS năm 1999: có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, BLHS năm 2015: có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng).
 
CHƯƠNG XV. CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO CỦA CON NGƯỜI, QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Với quan điểm chỉ đạo, định hướng, yêu cầu sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân trong tình hình mới, bảo đảm cụ thể hóa và thực hiện tốt các quy định của Hiến pháp năm 2013 về việc bảo vệ các quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; nội luật hóa các cam kết trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên; Chương XV BLHS năm 2015 quy định các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, gồm 11 điều luật, từ Điều 157 đến Điều 167. So với Chương XIII về các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 tăng 02 điều, trong đó, sửa đổi, bổ sung cả 09 điều luật trong Chương 13. Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân trong BLHS năm 1999; tách Điều 129. Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân trong BLHS năm 1999 thành 02 điều luật (Điều 163. Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân và Điều 164. Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác trong BLHS năm 2015). Đồng thời, bổ sung 01 tội danh mới là Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân (Điều 167 BLHS năm 2015). Chương XV BLHS năm 2015 có những sửa đổi cơ bản, tập trung vào 04 vấn đề: (1) Tách 01 điều luật thành 02 điều độc lập và bổ sung 01 tội danh mới. (2) Nâng mức hình phạt tù, cải tạo không giam giữ trong một số tội, đồng thời bỏ hình phạt cảnh cáo ở một số tội để thể hiện sự nghiêm khắc trong xử lý nhóm tội phạm này, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân. (3) Làm rõ, khắc phục các tình tiết có "tính định tính", tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. (4) Bổ sung các tình tiết tăng nặng định khung để bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình sự.
- Về tên gọi của Chương
Thực tiễn thi hành các quy định tại Chương XIII của BLHS năm 1999 cho thấy tên chương “Các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân” chưa bao quát hết khách thể là các quyền tự do của con người bị tội phạm xâm hại, bởi những quyền tự do của con người, trong đó có quyền của người nước ngoài, không phải là công dân Việt Nam nhưng đang sinh sống, học tập hoặc làm việc ở Việt Nam và được Nhà nước ta thừa nhận, ghi nhận trong Hiến pháp và bảo đảm thực hiện bằng các quy định của pháp luật.
Để cụ thể chế hóa các quy định mới về quyền con người, quyền công dân quy định tại Chương II của Hiến pháp năm 2013, BLHS năm 2015 đã điều chỉnh tên chương thành Các tội xâm phạm quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân (Chương XV). Việc điều chỉnh này để bảo đảm sự rõ ràng, minh bạch, bao quát toàn diện khách thể được bảo vệ gồm: các quyền tự do của con người và các quyền tự do, dân chủ của công dân.
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Điều 157. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
- Khoản 1: Giữ nguyên quy định dấu hiệu định tội của BLHS năm 1999: “người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” nhưng bổ sung quy định loại trừ nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 377 của Bộ luật này[11] để phân biệt với các trường hợp phạm tội mà chủ thể của tội phạm là người có chức vụ, quyền hạn thuộc Chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp, bảo đảm xử lý đúng đắn, chính xác tội phạm, tránh những vướng mắc nảy sinh.
Loại bỏ hình phạt cảnh cáo; tăng thời hạn cải tạo không giam giữ đến 03 năm (trước đây là 02 năm), nâng mức khởi điểm và mức tối đa của hình phạt tù lên thành từ 06 tháng đến 03 năm (trước đây là từ 03 tháng đến 02 năm) để xử lý nghiêm khắc hơn đối với hành vi phạm tội này.
- Khoản 2: nâng mức tối thiểu và mức tối đa hình phạt tù lên thành từ 02 năm đến 07 năm (trước đây là từ 01 năm đến 05 năm). Thay cụm từ “Phạm tội nhiều lần”, “Đối với nhiều người” thành cụm từ “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Đối với 02 người trở lênđể bảo đảm rõ ràng, thuận lợi cho thực tiễn áp dụng.
Bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ”; “Làm cho gia đình người bị giam, giữ lâm vào tình trạng khó khăn, quẫn bách”; “Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật từ 11% đến 45%”.
- Khoản 3: cụ thể hóa tình tiết mang tính định tính “Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng” bằng: “Làm người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật chết hoặc tự sát”; Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục phẩm giá nạn nhân”; “Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam trái pháp luật 46% trở lên”. Đồng thời, để bảo đảm nghiêm khắc trong xử lý, nâng mức tối thiểu và tối đa của hình phạt tù lên thành từ 05 năm đến 12 năm (trước đây là từ 03 năm đến 10 năm)
Điều 158. Tội xâm phạm chỗ ở của người khác
- Để phù hợp với quy định quy định của Hiến pháp năm 2013 "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở" (Điều 22), tên Điều luật được sửa đổi thành “Tội xâm phạm chỗ ở của người khác" thay vì quy định “Tội xâm phạm chỗ ở của công dân" (Điều 124 của BLHS năm 1999), nhằm xác định rõ khách thể được bảo vệ là quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của mọi cá nhân; đồng thời, thay cụm từ "công dân" bằng cụm từ "người khác" tại khoản 1 để thể hiện theo hướng mở rộng đối tượng, phạm vi bảo vệ quyền con người mà tên Điều luật đã xác định.
- Khoản 1: sửa đổi, bổ sung quy định về hành vi “đuổi trái pháp luật người khác khỏi chỗ ở của họ hoặc có những hành vi trái pháp luật khác xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở của công dân” thành các trường hợp phạm tội cụ thể: “Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, gây sức ép về tinh thần hoặc thủ đoạn trái pháp luật khác buộc người khác phải rời khỏi chỗ ở hợp pháp của họ”; “Dùng mọi thủ đoạn trái pháp luật nhằm chiếm, giữ chỗ ở hoặc cản trở trái phép, không cho người đang ở hoặc quản lý hợp pháp chỗ ở được vào chỗ ở của họ”; “Tự ý xâm nhập chỗ ở của người khác mà không được sự đồng ý của chủ nhà hoặc người quản lý hợp pháp”.
Loại bỏ hình phạt cảnh cáo, tăng thời hạn cải tạo không giam giữ đến 02 năm (trước đây quy định đến 01 năm), nâng mức hình phạt tù lên thành từ 03 tháng đến 02 năm (trước đây là từ 03 tháng đến 01 năm).
- Khoản 2: bổ sung tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”; đồng thời, cụ thể tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng” bằng: “Làm người bị xâm phạm chỗ ở tự sát”;Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” để giải quyết khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi trong thực tiễn áp dụng.
Nâng mức hình phạt tù lên thành từ 01 năm đến 05 năm (trước đây là từ 01 năm đến 03 năm), thể hiện thái độ nghiêm khắc hơn đối với các trường hợp phạm tội quy định tại khoản này.
Điều 159. Tội xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác
- So với BLHS năm 1999, tên của Điều luật đã được điều chỉnh, bổ sung cụm từ “hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác” để mở rộng đối tượng, phạm vi được pháp luật hình sự bảo vệ, bảo đảm phù hợp với quy định tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013 (Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác).
- Khoản 1: sửa đổi, bổ sung các hành vi phạm tội theo hướng: Chiếm đoạt thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông dưới bất kỳ hình thức nào; Cố ý làm hư hỏng, thất lạc hoặc cố ý lấy các thông tin, nội dung của thư tín, điện báo, telex, fax hoặc văn bản khác của người khác được truyền đưa bằng mạng bưu chính, viễn thông; Nghe, ghi âm cuộc đàm thoại trái pháp luật; Khám xét, thu giữ thư tín, điện tín trái pháp luật; Hành vi khác xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín, telex, fax hoặc hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác.
Sửa đổi, bổ sung theo hướng như trên để phù hợp với quy định của Luật viễn thông năm 2009 và Luật bưu chính năm 2010, bảo đảm xử lý triệt để, bao quát các trường hợp phạm tội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
Nâng mức phạt tiền lên thành từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (trước đây quy định từ 01 triệu đồng đến 05 triệu đồng) để răn đe, phòng ngừa, trừng trị, phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và thống nhất với các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này. Đồng thời để bảo đảm nghiêm khắc, Điều luật đã nâng hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (trước đây quy định đến 01 năm).
- Khoản 2: Sửa đổi tình tiết định khung tăng nặng TNHS “Phạm tội nhiều lần” thành “Phạm tội 02 lần trở lên”; cụ thể hóa tình tiết mang tính định tính “Gây hậu quả nghiêm trọng” bằng: “Tiết lộ các thông tin đã chiếm đoạt, làm ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác”; “Làm nạn nhân tự sát” tạo điều kiện thuận lợi cho thực tiễn áp dụng.
Loại bỏ tình tiết định khung tái phạm để bảo đảm thống nhất với quy định về tái phạm trong Phần những quy định chung của BLHS năm 2015.
Loại bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ, đồng thời nâng mức hình phạt tù lên thành từ 01 năm đến 03 năm (trước đây quy định từ 03 tháng đến 02 năm) để có thể xử lý nghiêm khắc hơn đối với loại tội này.
- Khoản 3: nâng mức hình phạt tiền là hình phạt bổ sung lên thành từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng (trước đây là từ 02 triệu đồng đến 20 triệu đồng) để phù hợp với thực tiễn.
Điều 160. Tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân
BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung Điều 126 của BLHS năm 1999 về “Tội xâm phạm quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân" thành “Tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân”, đồng thời mở rộng phạm vi xử lý hình sự đối với hành vi lừa gạt, mua chuộc, cưỡng ép hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân, đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền tham gia trưng cầu ý dân của công dân Việt Nam theo quy định của Hiến pháp năm 2013; và thống nhất với Luật trưng cầu ý dân năm 2015.
- Khoản 2: Cụ thể hóa tình tiết định khung tăng nặng mang tính định tính “Gây hậu quả nghiêm trọng"  bằng: “dẫn đến hoãn ngày bầu cử, bầu cử lại hoặc hoãn việc trưng cầu ý dân”, bảo đảm phù hợp với thực tiễn và quy định của pháp luật về bầu cử và trưng cầu ý dân.
Điều 161. Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân
BLHS năm 2015 đã bổ sung tội danh “làm sai lệch kết quả bầu cử" (Điều 127 của BLHS năm 1999) thành “Tội làm sai lệch kết quả bầu cử, kết quả trưng cầu ý dân”, đồng thời mở rộng phạm vi xử lý hình sự đối với hành vi giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả trưng cầu ý dân để bảo vệ hiệu quả việc thực hiện quyền tham gia trưng cầu ý dân của công dân, thống nhất với Luật trưng cầu ý dân năm 2015.
Hạ mức hình phạt tù xuống thành từ 03 tháng đến 02 năm (trước đây là từ 06 tháng đến 02 năm) để tương đồng với mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 160 về Tội xâm phạm quyền của công dân về bầu cử, ứng cử hoặc biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân.
Khoản 2: Cụ thể hóa tình tiết định khung tăng nặng mang tính định tính “Gây hậu quả nghiêm trọng" bằng: “Dẫn đến phải tổ chức lại việc bầu cử hoặc trưng cầu ý dân” đáp ứng yêu cầu từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này, tạo thuận lợi trong áp dụng; đồng thời, phù hợp và thống nhất với các quy định của pháp luật về bầu cử và trưng cầu ý dân.
Điều 162. Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật
- BLHS năm 2015 sửa đổi tên điều luật “Tội buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật" (Điều 128 BLHS năm 1999) thành “Tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật” để phù hợp với các quy phạm điều chỉnh của Luật công chức, Luật viên chức và Bộ luật lao động.
- Khoản 1: sửa đổi cấu thành của tội này để bảo đảm phân biệt ranh giới xử lý hình sự với xử lý bằng các chế tài hành chính, kỷ luật đối với các hành vi vi phạm này. Theo đó, chỉ xử lý hình sự đối với hành vi này khi gây ra hậu quả nghiêm trọng, đó là làm cho người bị thôi việc, người bị sa thải hoặc gia đình họ lâm vào tình trạng khó khăn hoặc dẫn đến đình công.
Quy định rõ tình tiết định tội “buộc người lao động, cán bộ, công chức thôi việc trái pháp luật” bằng các hành vi phạm tội cụ thể, đó là: “Ra quyết định buộc thôi việc trái pháp luật đối với công chức, viên chức”; “Sa thải trái pháp luật đối với người lao động”; “Cưỡng ép, đe doạ buộc người lao động, công chức, viên chức phải thôi việc”. Sửa đổi, bổ sung theo hướng này để phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành về công chức, viên chức và lĩnh vực lao động.
Bỏ hình phạt cảnh cáo, đồng thời bổ sung hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng để bảo đảm xử lý nghiêm khắc hơn đối với tội phạm này.
- Khoản 2: để phân hóa trách nhiệm hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, Điều luật bổ sung khung tăng nặng trách nhiệm hình sự (khoản 2) như sau: 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Đối với 02 người trở lên;
b) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;
c) Đối với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi;
d) Làm người bị buộc thôi việc, người bị sa thải tự sát.
- Khoản 3: bổ sung hình phạt bổ sung (khoản 3) như sau: “3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Điều 163 và Điều 164. Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác
- BLHS năm 2015 tách Điều 129 của BLHS năm 1999 thành 2 điều luật riêng biệt: Tội xâm phạm quyền hội họp, lập hội của công dân (Điều 163) và Tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác (Điều 164), bảo đảm sự phân biệt rõ ràng các khách thể của tội phạm, phù hợp với Điều 24 và Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là của mọi người (thuộc nội dung quyền con người), còn quyền hội họp, lập hội chỉ dành đối với công dân Việt Nam (thuộc nội dung quyền công dân).
- Khoản 1 của Điều 163, Điều 164:
Sửa đổi tình tiết định tội trong các tội danh này thành “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác  ngăn cản hoặc ép buộc người khác lập hội, hội họp hợp pháp” và “Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác ngăn cản hoặc ép buộc người khác thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” (trước đây quy định hành vi cản trở công dân thực hiện quyền hội họp, quyền lập hội). Đồng thời, sửa đổi, bổ sung theo hướng đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này để bảo đảm rõ ràng, đầy đủ, chính xác và phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.
Loại bỏ hình phạt cảnh cáo trong các tội danh này do không phù hợp với yêu cầu xử lý nghiêm khắc hơn đối với loại tội phạm này.
- Khoản 2: để phân hóa trách nhiệm hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, Điều 163, Điều 164 bổ sung khung tăng nặng trách nhiệm hình sự (khoản 2) như sau:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Dẫn đến biểu tình;
đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.”
Điều 165. Tội xâm phạm quyền bình đẳng giới
- So với Điều 130 của BLHS năm 1999 về Tội xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ", tên tội danh của Điều 165 của BLHS năm 2015 được sửa thànhTội xâm phạm quyền bình đẳng giới, để mở rộng phạm vi đối tượng được bảo vệ theo hướng không chỉ đối với phụ nữ mà cả đối với nam giới, những người đồng tính và những người có khiếm khuyết về giới, bảo đảm đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013 và Luật bình đẳng giới năm 2006.
- Khoản 1: sửa đổi, bổ sung các tình tiết là dấu hiệu cơ bản trong cấu thành định tội như sau: Người nào vì lý do giới mà thực hiện hành vi dưới bất kỳ hình thức nào cản trở người khác tham gia hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, lao động, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
Nâng mức phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm (trước đây quy định là 01 năm), bổ sung hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; bỏ quy định hình phạt tù ở khoản này. Việc điều chỉnh này nhằm phân hóa TNHS đối với các trường hợp phạm tội được quy định tại khoản 2 Điều luật.
- Khoản 2: để phân hóa trách nhiệm hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, Điều 165 bổ sung khung tăng nặng trách nhiệm hình sự (khoản 2) như sau:
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Đối với 02 người trở lên.”
- Khoản 3: bổ sung hình phạt bổ sung (khoản 3) như sau:
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
Điều 166. Tội xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo
- Khoản 1: so với Điều 132 BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 sửa đổi cấu thành cơ bản của tội phạm, bảo đảm quy định đúng và bao quát được các dạng hành vi phạm tội xảy ra trong thực tiễn, đó là: Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo; và Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo.
Nâng mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm (trước đây quy định đến 01 năm); nâng mức phạt tù lên thành từ 06 tháng đến 03 năm (trước đây quy định từ 03 tháng đến 03 năm). Việc điều chỉnh này là phù hợp với thực tiễn, nâng cao hiệu quả trong xử lý người phạm tội.
- Khoản 2: bổ sung tình tiết định khung tăng nặng TNHS để bảo đảm xử lý toàn diện các trường hợp phạm tội xảy ra trong thực tiễn, đó là: Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc hành vi khác cản trở việc khiếu nại, tố cáo, việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc việc xử lý người bị khiếu nại, tố cáo; Dẫn đến biểu tình; Làm người khiếu nại, tố cáo tự sát.
Nâng mức phạt tù lên thành từ 02 năm đến 07 năm (trước đây quy định từ 06 tháng đến 05 năm) để bảo đảm xử lý nghiêm khắc đối với tội phạm này.
Điều 167. Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân
Để bảo vệ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin và biểu tình mới được quy định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013, BLHS năm 2015 bổ sung 01 tội danh mới để xử lý hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân. Tuy nhiên, các luật chuyên ngành trong lĩnh vực này chưa được ban hành để điều chỉnh, bảo đảm thực thi nhóm quyền tự do này của công dân trong đời sống xã hội. Do vậy, điều luật chỉ quy định cấu thành tội phạm có tính chất khái quát. Cụ thể như sau:
- Khoản 1: quy định cấu thành tội phạm là người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân. Đồng thời quy định tình tiết là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này phải là người đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm thì mới bị coi là tội phạm và bị xem xét, truy cứu TNHS.
Về hình phạt, người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Chế tài này là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội, bảo đảm hiệu quả răn đe, phòng ngừa và trừng trị đối với tội phạm.
- Khoản 2: quy định các tình tiết định khung tăng nặng TNHS, đó là trường hợp phạm tội: Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Về hình phạt, người phạm tội thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, bảo đảm yêu cầu phân hóa TNHS đối với các trường hợp phạm tội.
- Khoản 3: để bảo đảm phòng ngừa, quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội là có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 05 năm.
 
CHƯƠNG XVI. CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
1.  TỔNG QUAN CHUNG NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Chương các tội xâm phạm sở hữu BLHS năm 2015 gồm 13 Điều luật (từ Điều 167 đến Điều 179); So với BLHS năm 1999, Chương XVI giữ nguyên số lượng 13 Điều, chỉ sửa đổi, không bổ sung mới hoặc bãi bỏ Điều luật nào. Những nội dung mới cơ bản của Chương gồm:
- Sửa tên điều luật từ "Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước" (Điều 144 BLHS 1999) thành "Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp" (Điều 179 BLHS năm 2015). Việc sửa đổi như vậy nhằm bổ sung đối tượng bị xâm hại không chỉ Nhà nước mà cả cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.
- Bổ sung đối tượng tài sản bị xâm hại là "cổ vật" và "bảo vật quốc gia". BLHS năm1999 quy định đối tượng tài sản bị xâm hại là những tài sản thông thường, có thể quy giá trị thành tiền mà chưa đề cập đến những đối tượng tài sản đặc biệt, như cổ vật, bảo vật quốc gia. Những tài sản này có thể có những loại tuy giá trị quy thành tiền không đáng kể, nhưng những giá trị về văn hóa, về lịch sử về tinh thần thì không thể tính hết được, đặc biệt không thể quy giá trị tài sản này thành tiền.
- Nâng giá trị tài sản bị sử dụng trái phép từ 50 triệu lên 100 triệu đồng đối với Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 177); Nâng mức khởi điểm tài sản bị thiệt hại từ 50 triệu lên 100 triệu đồng đối với Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (Điều 179); Nâng mức khởi điểm tài sản bị thiệt hại từ 50 triệu lên 100 triệu đồng đối với Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 180).
- BLHS 2015 đã cụ thể hóa các tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu được quy định trong BLHS năm 1999 (từ Điều 133 đến Điều 143) bằng các hậu quả vật chất và phi vật chất cụ thể.
- Về hình phạt: nhìn chung hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu đều được sửa đổi theo hướng giảm nhẹ thể hiện ở việc: (1) bỏ hình phạt tử hình ở tội cướp tài sản, bỏ hình phạt chung thân ở các tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS; hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; (2) giảm hình phạt tù quy định tại Điều 179, Điều 180; (3) bổ sung hình phạt tiền ở một số tội: Chiếm giữ trái phép tài sản Điều 176, Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Điều 178.
- Bổ sung một khoản trong các điều quy định về tội Cướp tài sản và Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản để xử lý đối với người chuẩn bị phạm các tội này.
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Điều 168. Tội cướp tài sản
- Bãi bỏ các tình tiết định khung: Gây hậu quả nghiêm trọng, Gây hậu quả rất nghiêm trọng, Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm g Khoản 2; điểm c Khoản 3; điểm c Khoản 4;
- Bổ sung tình tiết định khung:
+ Khoản 2 bổ sung tình tiết: e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
 + Khoản 3 bổ sung 01 tình tiết: c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
 + Khoản 4: Bổ sung 02 tình tiết định khung: b).... hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp. Bỏ hình phạt tử hình nên hình phạt cao nhất trong khung này là tù chung thân.
- Bổ sung khoản 5 " Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm."
Điều 169. Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Điểm c Khoản 2: thay đổi từ "Sử dụng vũ khí” bằng “Dùng vũ khí
- Sửa đổi các tình tiết định khung ở khoản 2:  Đối với trẻ em thay bằng "Đối với người dưới 16 tuổi"; Đối với nhiều người thay bằng "Đối với 02 người trở lên";
- Bỏ các tình tiết định khung: (Gây hậu quả nghiêm trọng, Gây hậu quả rất nghiêm trọng, Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng quy định tại điểm i Khoản 2; điểm c khoản 3; điểm c khoản 4 điều này của BLHS năm 1999);
- Bổ sung các tình tiết định khung mới cụ thể:
+ Khoản 2: bổ sung các tình tiết: h) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%; i) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Khoản 3: bổ sung: c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.
+ Khoản 4: Bổ sung các tình tiết: b) ... hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên; c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của 02 người trở lên mà tỷ lệ của mỗi người 46% trở lên; d) Làm chết người (được tách ra thành một điểm riêng)
- Bổ sung khoản 5: "5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm."
Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản
- Bãi bỏ các tình tiết định khung: (Gây hậu quả nghiêm trọng, Gây hậu quả rất nghiêm trọng, Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng) quy định tại điểm đ khoản 2; điểm b khoản 3; điểm b khoản 4 điều này của BLHS năm 1999);
- Bổ sung các tình tiết định khung mới:
+ Khoản 2: c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Khoản 3: Bổ sung tình tiết: “b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh”;
+ Khoản 4:  Bổ sung tình tiết: b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Điều 171. Tội cướp giật tài sản
- Bãi bỏ các tình tiết định khung: “Gây hậu quả nghiêm trọng, Gây hậu quả rất nghiêm trọng, Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại điểm h Khoản 2; điểm c khoản 3; điểm c khoản 4 Điều 136 BLHS năm 1999;
- Bổ sung các tình tiết định khung mới: Khoản 2: g) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; h) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Khoản 3, bổ sung tình tiết: c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
- Sửa đổi và bổ sung tình tiết định khung mới ở khoản 4: b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;c) Làm chết người (được tách ra thành một điểm); d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Điều 172. Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản
- Sửa đổi hình phạt theo hướng: bổ sung mới hình phạt "cải tạo không giam giữ" là hình phạt chính quy định tại khoản 1; bỏ hình phạt tù chung thân, quy định mức hình phạt cao nhất của điều luật này là 20 năm tù.
- Bãi bỏ tình tiết chiếm đoạt tài sản dưới 02 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng là điều kiện cấu thành tội này quy định tại khoản 1; bãi bỏ các tình tiết định khung (Gây hậu quả nghiêm trọng, Gây hậu quả rất nghiêm trọng, Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng) quy định tại điểm d khoản 2, điểm b khoản 3 và điểm b khoản 4.
- Cụ thể hóa và bổ sung mới hành vi chiếm đoạt tài sản dưới 02 triệu đồng quy định tại Khoản 1 điều luật này, bao gồm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
- Bổ sung các tình tiết định khung mới ở khoản 2: d) Chiếm đoạt tài sản là hàng cứu trợ; đ) Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại một trong các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
- Bổ sung các tình tiết định khung mới ở khoản 3: b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
- Bổ sung các tình tiết định khung mới ở khoản 4: b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
- Về hình phạt bổ sung: Tăng khởi điểm hình phạt bổ sung từ 5 triệu đồng lên 10 triệu đồng.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
- Về hình phạt: bỏ hình phạt tù chung thân, khung hình phạt cao nhất tội này đến 20 năm tù.
- Bãi bỏ tình tiết chiếm đoạt tài sản dưới 02 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng là điều kiện cấu thành tội này quy định tại khoản 1; bãi bỏ các tình tiết định khung (Gây hậu quả nghiêm trọng, Gây hậu quả rất nghiêm trọng, Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng) quy định tại điểm d khoản 2, điểm b khoản 3 và điểm b khoản 4 điều này của BLHS năm 1999.
- Cụ thể hóa và bổ sung mới hành vi chiếm đoạt tài sản dưới 02 triệu đồng quy định tại Khoản 1 điều luật này, bao gồm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
- Bổ sung 01 tình tiết định khung mới:
+ Khoản 2 bổ sung: e) Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
+ Khoản 3 bổ sung các tình tiết: b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
+ Bổ sung các tình tiết định khung mới ở khoản 4: b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này; c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Bãi bỏ tình tiết chiếm đoạt tài sản dưới 02 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng là điều kiện cấu thành tội này quy định tại khoản 1; Bỏ các tình tiết định khung (Gây hậu quả nghiêm trọng, Gây hậu quả rất nghiêm trọng, Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng) quy định tại điểm g khoản 2, điểm b khoản 3 và điểm b khoản 4 điều này của BLHS năm 1999.
 - Cụ thể hóa và bổ sung mới hành vi chiếm đoạt tài sản dưới 02 triệu đồng quy định tại Khoản 1 điều luật này, bao gồm: a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
- Bổ sung tình tiết định khung mới:
 + Khoản 2 bổ sung tình tiết: g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
+ Khỏan 3 bổ sung 02 tình tiết: b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
+ Khoản 4 bổ sung 02 tình tiết: b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Bãi bỏ tình tiết chiếm đoạt tài sản dưới 04 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng là điều kiện cấu thành tội này quy định tại khoản 1;
- Cụ thể hóa và bổ sung mới hành vi chiếm đoạt tài sản dưới 04 triệu đồng quy định tại Khoản 1 điều luật này, bao gồm: "đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại"
- Bãi bỏ dấu hiệu bỏ trốn”, bổ sung dấu hiệu “đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”.
Như vậy, hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác sau khi đã thực hiện các giao dịch dân sự ngay thẳng chỉ cấu thành tội phạm khi có một trong các dấu hiệu sau đây:
Một là: Dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đã nhận. Tài sản bị chiếm đoạt có thể là một phần hay toàn bộ. Hành vi gian dối có thể là nói dối là bị mất tài sản, đánh tráo tài sản, rút bớt tài sản.
Hai là: Đến thời hạn trả lại tài sản theo thỏa thuận, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả lại tài sản.
Ba là: Sử dụng tài sản đã vay, mượn, thuê hoặc nhận được của người khác vào mục đích bất hợp pháp dẫn tới không có khả năng trả nợ. Hành vi sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp là hành vi sử dụng tài sản không đúng cam kết, thỏa thuận. Ví dụ như mượn xe ô tô, xe máy sau đó đem bán để đánh bạc và do thua bạc nên không có khả năng trả lại tài sản.
- Bỏ các tình tiết định khung (Gây hậu quả nghiêm trọng, Gây hậu quả rất nghiêm trọng, Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng) quy định tại điểm e  khoản 2 và điểm b khoản 3 và điểm b khoản 4 điều luật của BLLHS năm 1999.
- Bổ sung tình tiết định khung mới: b) Có tính chất chuyên nghiệp ở khoản 2; b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khoản 3
- Về hình phạt: tăng hình phạt khởi điểm từ 03 tháng lên 06 tháng tù ở khoản 1.
Điều 176. Tội chiếm giữ trái phép tài sản
- Sửa đổi bổ sung tài sản chiếm giữ trái phép là "di vật" vào cấu thành cơ bản ở khoản 1.
- Khoản 2 sửa đổi tài sản là "cổ vật, vật có giá trị lịch sử, văn hoá có giá trị đặc biệt" bằng "bảo vật quốc gia"
- Về hình phạt: bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính và giảm hình phạt cải tạo không giam giữ từ 3 năm xuống còn 2 năm ở Khoản 1.
Điều 177. Tội sử dụng trái phép tài sản
- Nâng mức khởi điểm trị giá tài sản đã sử dụng từ 50 triệu đồng lên thành 100 triệu đồng. Như vậy, điều luật đã phi hình sự đối với các hành vi sử dụng trái phép tài sản từ 50 triệu đồng đến dưới 100.000.000 đồng.
- Bãi bỏ tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng" là điều kiện cấu thành tội này; Bổ sung các yếu tố "đã bị xử lý kỷ luật" "hoặc tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 220 của Bộ luật này " là điều kiện cấu thành tội này.
- Sửa đổi bổ sung tại khoản 2: Phạm tội nhiều lần sửa thành "Phạm tội 02 lần trở lên"; Bỏ tình tiết "Gây hậu quả rất nghiêm trọng", bổ sung các tình tiết định khung: a) Tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng; b) Tài sản là bảo vật quốc gia;
- Bãi bỏ tình tiết "Phạm tội gây hậu qủa đặc biệt nghiêm trọng ",  bổ sung tình tiết mới " Phạm tội sử dụng trái phép tài sản trị giá 1.500.000.000 đồng trở lên " tại khoản 3.
- Về hình phạt: nâng hình phạt tiền khởi điểm từ 5 triệu đồng lên 10 triệu đồng ở khoản 1; Bổ sung hình phạt tiền và giảm mức khởi điểm hình phạt tù từ 2 năm xuống còn 01 năm ở khoản 2.
Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
- Khoản 1 được sửa đổi, bổ sung theo hướng như sau: “1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, tài sản là di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa hoặc tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
- Khoản 2 có một số sửa đổi, bổ sung như sau:
+ Sửa “dùng chất nổ, chất cháy” thành “dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ”. Việc sửa này thành tháo gỡ vướng mắc khi áp dụng “chất cháy” đối với trường hợp dùng xăng, dầu để đốt tài sản (đốt nhà, đốt xe máy, ô tô…). Xăng, dầu không phải là chất cháy nên áp dụng tình tiết tăng nặng định khung là không chính xác. Chất cháy là chất trong điều kiện tự nhiên tự cháy mà không cần phải có tác động nào của con người. Do đó, điều luật quy định “dùng chất nguy hiểm về cháy” được hiểu là các chất gây nguy hiểm khi cháy như xăng, dầu. 
+ Bổ sung điểm c “gây thiệt hại là bảo vật quốc gia”, điểm g “gây thiệt hại cho tài sản trị giá dưới 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều này”
- Khoản 3 bổ sung điểm b “gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, và d Khoản 1 Điều này”.
- Khoản 4 bổ sung điểm b “gây thiệt hại cho tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều này”.
- Về hình phạt: bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính, giảm hình phạt tù quy định tại khoản 3 từ 7 năm đến 15 năm xuống còn từ 5 năm đến 10 năm; Bỏ hình phạt tù chung thân quy định tại khoản 4, theo đó hình phạt cao nhất của tội này là 20 năm.
Điều 179. Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp
Mở rộng phạm vi xử lý hình sự đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Đây là tội ghép nên tùy theo chủ thể bị thiệt hại để áp dụng điều luật cho chính xác, chẳng hạn: hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại tài sản của cơ quan trong bộ máy Nhà nước thì phạm tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, còn nếu hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của cơ quan mà không phải cơ quan Nhà nước thì phạm tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của cơ quan.
- Nâng mức khởi điểm thiệt hại cho tài sản từ 50 triệu lên 100 triệu đồng; Khoản 2: nâng giá trị tài sản bị thiệt hại từ 200 triệu đến dưới 500 triệu lên mức từ 500 triệu đến dưới 02 tỉ đồng. Khoản 3: nâng giá trị tài sản bị thiệt hại từ 500 triệu trở lên, thành 2 tỉ đồng trở lên.
- Về hình phạt: bổ sung hình phạt cảnh cáo, bỏ hình phạt tù ở khoản 1; giảm hình phạt tù quy định tại khoản 2: từ 02 năm đến 7 năm xuống còn từ 01 năm đến 5 năm; giảm hình phạt tù quy định tại khoản 3: từ 7 năm đến 15 năm xuống còn từ 5 năm đến 10 năm;
- Hình phạt bổ sung tại Khoản 4 được sửa đổi cho phù hợp, theo đó, thay quy định “cấm đảm nhiệm chức vụ quản lý tài sản của Nhà nước” bằng quy định “cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định”.
Điều 180. Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
- Nâng mức khởi điểm tài sản bị gây thiệt hại từ 50 triệu lên 100 triệu đồng.
- Về hình phạt: Bỏ hình phạt tù quy định tại khoản 1; giảm hình phạt tù quy định tại khoản 2 phạt theo hướng phạt tù từ 01 năm đến 3 năm xuống còn 03 tháng đến 2 năm.
CHƯƠNG XVII. TỘI XÂM PHẠM CHẾ ĐỘ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1. TỔNG QUAN CHUNG NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình được quy định tại Chương XVII của BLHS 2015 gồm 07 điều (từ Điều 181 đến Điều 187), so với Bộ luật hình sự năm 1999 thì số lượng điều không thay đổi nhưng đã sửa đổi, bổ sung 6 điều, bổ sung mới 01 điều (Điều 187), thu hút vào điều luật khác: 01 điều (Điều 149 BLHS 1999 đã được thu hút vào Điều 336 BLHS 2015. Những nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản của Chương gồm:
- Tội phạm hóa 3 hành vi: Cưỡng ép ly hôn (Điều 181); Cản trở ly hôn (Điều 181); Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (Điều 187).
- Phi tội phạm hóa hành vi tảo hôn, bởi vì, xét cho cùng thì thực trạng tảo hôn xảy ra chủ yếu do các nguyên nhân xã hội, sự tuyên truyền, giáo dục của gia đình, xã hội chưa có hiệu quả cao. Thậm chí có trường hợp tảo hôn do sức ép của người lớn, của cha mẹ. Do vậy, đối với hành vi này chỉ áp dụng chế tài hành chính để xử lý là phù hợp.
- Thu hút hành vi đăng ký kết hôn trái pháp luật vào tội danh đăng ký hộ tịch trái pháp luật (Điều 336).
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Điều 181. Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện
Bổ sung  hành vi cưỡng ép ly hôn hoặc cản trở ly hôn tự nguyện. Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định hành vi “cưỡng ép ly hôn”, “cản trở ly hôn” là một trong các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình 2014. Do vậy, BLHS năm 2015 đã tội phạm hóa 2 hành vi này để bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng như đảm bảo tính thống nhất và phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình.
Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng
- Cụ thể hóa Điểm a Khoản 3, mục 3.1 Thông tư số 01/2001/TTLT/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001 Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các quy định tại chương XV các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình: Tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 1, Điều 147 BLHS 1999 đã được cụ thể  hóa tại khoản 1 Điều 182 BLHS năm 2015 là "làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn”.
- Bổ sung vào khoản 2 Điều 182 trường hợp "Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát”.
- Thay từ "tiêu hủy” tại khoản 2 Điều 147 BLHS 1999 thành từ "hủy”  tại khoản 2 Điều 182 BLHS năm 2015 để bảo đảm tính chính xác.
Điều 183. Tội tổ chức tảo hôn.
- Sửa đổi hành vi cấu thành tội phạm này theo hướng thay cụm từ "Tổ chức kết hôn” bằng cụm từ "Tổ chức lấy vợ lấy chồng”.
- Bỏ hình phạt cảnh cáo và hình phạt tù đối với tội này, đồng thời bổ sung hình phạt chính là hình phạt tiền đối với tội này (từ 10 triệu đến 30 triệu đồng).
Điều 184. Tội loạn luân
- Bổ sung thêm điều kiện về mặt chủ quan “biết rõ”. Đây là điều kiện tiên quyết để xác định một người có phạm tội này hay không? Người thực hiện hành vi loạn luân phải biết rõ mình và người bị giao cấu có cùng dòng máu trực hệ, là anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha thì mới bị coi là phạm tội này.
- Về hình phạt: Nâng mức hình phạt tù tối thiểu từ 06 tháng lên 01 năm.
Điều 185. Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình.
- BLHS năm 2015 đã cụ thể hóa hành vi ngược đãi, hành hạ người khác tại khoản 1, đồng thời, cụ thể hóa tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng” thành  hậu quả "Thường xuyên làm cho nạn nhân bị đau đớn về thể xác, tinh thần” trên tinh thần khái quát và luật hóa nội dung hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001 Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các quy định tại chương XV các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình (sau đây gọi tắt là TTLT số 01/2001/TTLT ngày 25/9/2001).
- Nâng mức phạt tù tối thiểu tại khoản 1 từ 03 tháng (theo BLHS năm 1999) lên 06 tháng.
- Bổ sung khoản 2 quy định những trường hợp tăng nặng đối với tội phạm này với mức hình phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
Điều 186. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”  thành “làm cho người được cấp dưỡng lâm tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe” trên cơ sở khái quát và luật hóa quy định tại khoản 8 Thông tư 01/2001/TTLT ngày 25/9/2001.
- Sửa đổi về mặt kỹ thuật, từ ngữ cho phù hợp hơn.
Điều 187. Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại
BLHS năm 2015 đã bổ sung mới tội danh "Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại". Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm nghiêm trọng tới quy định của pháp luật về hôn nhân, gia đình và kéo theo nhiều hệ lụy, ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội. Do vậy, việc hình sự hóa hành vi này nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật.
a) Khách thể của tội phạm: Xâm phạm đến việc quản lý nhà nước đối với hoạt động mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
b) Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý với mục đích thương mại.
c) Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ ai người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
d) Về hình phạt: Tội phạm này có 02 khung hình phạt chính (khoản 1, 2) và 01 khung hình phạt bổ sung (khoản 3), cụ thể  là:
Khung 1: Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Khung 2: Phạt tù từ 01 năm đến 5 năm áp dụng trong các trường hợp phạm tội sau đây:  Đối với 02 người trở lên; Phạm tội 02 lần trở lên; Lợi dung danh nghĩa của cơ quan, tổ chức; Tái phạm nguy hiểm.
Khoản 3: Phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm.
 
CHƯƠNG XVIII. CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
1.1. Sự cần thiết phải sửa đổi, bổ sung các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Từ khi BLHS năm 1999 được ban hành đến nay tình hình kinh tế, xã hội của Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản về cơ chế quản lý kinh tế. Nền kinh tế thị trường định hướng định hướng XHCN của nước ta đã có những bước phát triển quan trọng, từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và đã mang lại những lợi ích to lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, trong đó có vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm. BLHS năm 1999 nhìn chung vẫn là sản phẩm mang đậm dấu ấn của thời kỳ đầu của quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, do vậy, chưa thực sự phát huy tác dụng trong việc bảo vệ và thúc đẩy các nhân tố tích cực của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phát triển một cách lành mạnh. Nhiều quy định trong BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) không còn phù hợp với thể chế và yêu cầu phát triển của nền kinh tế hiện nay cũng như trong tương lai, một số quy định trở thành rào cản, kìm hãm sự phát triển kinh tế và không phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 (như tội kinh doanh trái phép) hoặc không phù hợp với cơ chế mới (như tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế...). Thực tiễn cũng cho thấy có những tội danh quy định không rõ ràng về hành vi, dễ bị lạm dụng xử lý (như Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); nhiều tội phạm có quy định các tình tiết định tội, định khung không cụ thể nên khó áp dụng trong thực tế. Mặt khác, nhiều tội phạm mới phát sinh trong quá trình vận hành nền kinh tế chưa được kịp thời bổ sung hoặc tuy đã được bổ sung, nhưng chưa đầy đủ, toàn diện, nhất là các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mại, tài chính, ngân hàng, thuế, bảo hiểm, chứng khoán… Những hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế cũng như hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và đòi hỏi cần phải tiếp tục hoàn thiện BLHS để góp phần bảo vệ và thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Việc sửa đổi, bổ sung các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế nhằm đáp ứng hai mục tiêu sau:
Thứ nhất, mục tiêu quan trọng của việc sửa đổi, bổ sung BLHS lần này là xây dựng BLHS phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước sau Hiến pháp năm 2013, phát huy hơn nữa vai trò của BLHS với tư cách là công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; góp phần bảo vệ chủ quyền, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ và thúc đẩy nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa phát triển đúng hướng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, tạo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn, lành mạnh cho mọi người dân, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta.
Thứ hai, thể chế hóa đầy đủ, toàn diện các chủ trương, đường lối của Đảng thể hiện trong các văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng, Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách Tư pháp đến năm 2020, đặc biệt là chủ trương: "Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", "Quy định là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế".
1.2. Những nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản
So với quy định tại BLHS năm 1999, Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tại BLHS năm 2015 có những sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
- Chương 18 được kết cấu thành 3 mục, theo lĩnh vực kinh tế bao gồm:
Mục 1: Các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại;
Mục 2: Các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm;
Mục 3: Các tội phạm khác xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
- Số lượng các tội phạm trong chương này tăng từ 35 tội lên 47 tội; trong đó:
+ Bỏ 4 tội: Tội kinh doanh trái phép; Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế; Tội vi phạm quy định về cấp bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; Tội sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng;
+ Thay thế Tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng bằng một số tội: Tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Đ 217); Tội vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản (Đ 218); Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản của Nhà nước gây thất thoát, lãng phí (Đ 219); Tội vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng (Đ 220); Tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng (Đ 221); Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng (Đ 222); Tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng (Đ 223); Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng (Đ 224); Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Đ 230);
+ Bổ sung 01 tội danh trong lĩnh vực chứng khoán: Tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán cũng là những tội phạm mới được bổ sung vào BLHS năm 1999 trong lần sửa đổi, bổ sung năm 2009, gồm có 03 tội danh (tội công bố thông tin sai lệc hoặc che giấu sự thật trong hoạt động chứng khoán - Điều 181a; tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán - Điều 181b; tội thao túng giá chứng khoán - Điều 181c). Nay, BLHS năm 2015 bổ sung 01 tội danh mới - tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (Điều 212) nhằm đảm bảo BLHS bao quát được hết những hành vi nguy hiểm cho xã hội trong lĩnh vực chứng khoán, bởi vì việc làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán đã xảy ra khá phổ biến trong thời gian qua nhưng chế tài hành chính không đủ sức răn đe, trong khi đó thị trường chứng khoán là thị trường tương đối nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn tới sự ổn định, phát triển của nền kinh tế đất nước.
+ Bổ sung 4 tội danh trong lĩnh vực bảo hiểm: Thực trạng trạng vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội trong những năm gần đây có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của người lao động. Một vấn đề nổi cộm vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là tình trạng chậm đóng, nợ đọng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động ngày càng gia tăng với số tiền lớn xảy ra ở hầu hết các tỉnh, thành trên cả nước, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của hàng trăm nghìn người lao động, dẫn đến việc họ không được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế kịp thời. Bên cạnh đó, tình trạng lợi dụng kẽ hở của pháp luật trong kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm cũng xuất hiện ngày càng phổ biến.
Thực tiễn cho thấy, trong một số trường hợp, cơ quan tiến hành tố tụng vận dụng một số quy định của BLHS năm 1999 để xử lý đối với hành vi gian lận bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và hành vi trục lợi trong kinh doanh bảo hiểm hội. Tuy nhiên, việc vận dụng này chưa được thống nhất và đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Trong khi đó, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và kinh doanh bảo hiểm là lĩnh vực có những đặc thù, hơn nữa, quyền được bảo đảm an sinh xã hội là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 2013 khẳng định (Điều 34). Do vậy, BLHS năm 2015 đã bổ sung 04 tội danh liên quan đến lĩnh vực này, đó là tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Điều 213); tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp (Điều 214); tội gian lận bảo hiểm y tế (Điều 215) và tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Điều 216).
+ Tách tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh  tại  Đ 157 BLHS năm 1999 thành 2 tội: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Đ 193) và Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, phòng bệnh (Đ 194);
+ Tách tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm tại Điều 155 BLHS năm 1999 thành 2 tội là: Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Đ 190) và Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Đ 191)
- Quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với phần lớn các tội phạm. Do người phạm tội về kinh tế nhằm mục đích về kinh tế nên có thể dùng hình phạt tiền thay thế cho hình phạt tù vẫn đạt được mục đích xử lý tội phạm, thực hiện chủ trương giảm hình phạt tù.  
- Quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội đối với 22 tội, gồm: Tội buôn lậu (Đ 188); Tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới (Đ 189); Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Đ 190); Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (Đ 191); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Đ 192); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Đ 193); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, phòng bệnh (Đ 194); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để  chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Đ 195); Tội đầu cơ (Đ 196); Tội trốn thuế (Đ 200); Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ nộp ngân sách nhà nước (Đ 203); Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che dấu thông tin trong hoạt động chứng khoán (Đ 209); Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Đ 210); Tội thao túng thị trường chứng khoán (Đ 211); Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (Đ 213); Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (Đ 216); Tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Đ 217); Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Đ 225); Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Đ 226); Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên (Đ 227); Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Đ 232); Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã (Đ 234).
- Sửa đổi, bổ sung cụ thể hóa một số tình tiết định tính, định lượng làm căn cứ định tội hoặc định khung hình phạt một số tội phạm:
Để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng của các dấu hiệu định tính, định lượng, làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc dấu hiệu định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự, các điều luật của mục này đã cụ thể hóa tương đối đầy đủ, rõ ràng các dấu hiệu định tính, định lượng. Đó là:
+ Dấu hiệu thu lợi bất chính lớn, thu lợi bất chính rất lớn, thu lợi bất chính đặc biệt lớn quy định tại các điều luật trong BLHS năm 1999 đã được BLHS năm 2015 cụ thể hóa tại tất cả các điều luật liên quan bằng số tiền thu lợi bất chính cụ thể.
+ Dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng được quy định trong BLHS năm 1999 đã được BLHS năm 2015 cụ thể hóa tại tất cả các điều luật liên quan bằng số tiền thiệt hại cụ thể.
+ Dấu hiệu số lượng lớn, số lượng rất lớn, số lượng đặc biệt lớn được  BLHS năm 1999 quy định tại các điều luật thuộc nhóm tội phạm này đã được BLHS năm 2015 cụ thể hóa bằng số lượng cụ thể.
- Dấu hiệu phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng, trong trường hợp rất nghiêm trọng và trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng làm căn cứ định khung hình phạt đã được cụ thể hóa bằng trị giá tiền thật hoặc tương ứng với tiền thật (trong trường hợp tiền giả hoặc tương ứng với công cụ chuyển nhượng giá hoặc những giấy tờ có giá giả khác).
- Sửa đổi, b sung cấu thành cơ bản của một số tội phạm như: bổ sung thêm phạm vi khách thể cần được bảo vệ của tội vi phạm quy định trong hoạt động của tổ chức tín dụng (Điều 179 BLHS năm 1999), theo đó, BLHS năm 2015 không chỉ xử lý hình sự đối với những hành vi vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng như BLHS  năm 1999 mà còn xử lý những hành vi vi phạm quy định trong hoạt động của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng thuộc phạm vi bị xử lý hình sự; sửa đổi cấu thành cơ bản của một số tội phạm trong lĩnh vực nhằm đảm bảo chính xác hơn, đầy đủ hơn các hành vi cần được xử lý hình sự cũng như loại bỏ bớt những hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ: Điều 207 BLHS năm 2015 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả) đã loại bỏ khách thể cần được bảo vệ là "ngân phiếu giả, công trái giả" như quy định tại Điều 180 BLHS năm 1999; Điều 211 BLHS năm 2015 (tội thao túng thị trường chứng khoán) đã bổ sung thêm 04 loại hành vi trong cấu thành cơ bản để đảm bảo sự đầy đủ, chính xác và bao quát hết những hành vi nguy hiểm trong lĩnh vực chứng khoán.
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Mục A: CÁC TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT, KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
Điều 188. Tội buôn lậu
So với quy định tại Điều 153 BLHS 1999, quy định tại BLHS năm 2015 có những điểm đáng lưu ý là:
- Tại khung 1, cấu thành cơ bản đã bỏ tình tiết định tội “hàng cấm có số lượng lớn”, theo đó việc buôn bán hàng cấm qua biên giới sẽ bị xử lý về tội buôn bán hàng cấm quy định tại Điều 190 BLHS năm 2015; bỏ các tình tiết định khung tăng nặng liên quan đến hàng cấm và tăng mức phạt tiền là hình phạt chính "từ 10 triệu đến 100 triệu" lên "từ 50 triệu đến 300 triệu".
- Tại các khung tăng nặng, đã cụ thể hóa bằng tiền tình tiết thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn; bỏ các tình tiết định khung: hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
- Bổ sung phạt tiền là hình phạt chính vào các khoản 2,3 của Điều luật, đồng thời, nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung (BLHS 1999: từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng, BLHS 2015: từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng);
- Bổ sung việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân có hành vi buôn lậu.
Lưu ý:
* Hành vi buôn lậu không chỉ là buôn bán qua biên giới như BLHS năm 1999 mà cả buôn bán trong nước nhưng từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại từ nội địa vào khu phi thuế quan.
* Đối với hành vi “cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu”, trong thực tiễn lâu nay hành vi này thường bị xử lý về tội buôn lậu, nay sẽ bị xử lý về tội trốn thuế (xem điểm g, khoản 1, Điều 200).
Điều 189. Tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới
So với quy định tại Điều 154 BLHS 1999, quy định tại BLHS năm 2015 có những điểm đáng lưu ý là:
- Mức hình phạt tiền ở khoản 1 đã được nâng lên (BLHS 199: từ 5 triệu đồng đến hai mươi triệu đồng; BLHS 2015 từ 20 triệu đồng đến 200 triệu đồng);
- BLHS năm 1999 quy định ở điểm b, khoản 1 là : Đối với vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm; điểm b, khoản 1 Điều 189 BLHS năm 2015 quy định: Di vật, cổ vật có giá trị lịch sử, văn hóa (không còn tình tiết đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm);
- Tại khoản 1, cấu thành cơ bản đã bỏ tình tiết định tội “hàng cấm có số lượng lớn”, theo đó việc vận chuyển hàng cấm qua biên giới sẽ bị xử lý về tội vận chuyển hàng cấm quy định tại Điều 191 BLHS năm 2015; bỏ các tình tiết định khung tăng nặng liên quan đến hàng cấm;
- Bổ sung phạt tiền là hình phạt chính vào các khoản 2,3 của Điều luật, đồng thời, nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung (BLHS 1999: từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng, BLHS 2015: từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng);
- Bổ sung việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại có hành vi buôn lậu.
Lưu ý: Nếu hàng hóa là hàng cấm quy định tại các điều 190, 191 thì chuyển xử lý theo hành vi tương ứng ở các tội này.
* Hành vi vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới không chỉ là vận chuyển qua biên giới như BLHS năm 1999 mà cả vận chuyển trong nước nhưng từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại từ nội địa vào khu phi thuế quan.
Điều 190. Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm
So với quy định tại Điều 155 BLHS 1999, quy định tại Điều 190 BLHS năm 2015 có những điểm đáng lưu ý là:
- Khái niệm “hàng cấm” được mở rộng: Khoản 1, Điều 155 BLHS 1999 quy định hàng cấm là “hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh”; khoản 1 Điều 190 BLHS năm 2015 quy định hàng cấm là “hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, cấm lưu hành, cấm sử dụng, chưa được phép lưu hành, chưa được phép sử dụng tại Việt Nam”. Lưu ý phân biệt hàng cấm với hàng cấm nhập khẩu, hàng hóa hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện theo các danh mục riêng.
- Khoản 1, Điều 155 BLHS 1999 quy định hàng cấm có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một số hành vi…thì mới phạm tội.  Điểm a, Khoản 1 Điều 190 BLHS năm 2015 quy định đối với hàng cấm là hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật cấm sử dụng trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sơ chế, chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản và muối thì không có quy định về số lượng, giá trị, nghĩa là số lượng nhỏ, giá trị nhỏ vẫn cấu thành tội phạm. Đối với các loại hàng hóa khác, giá trị hàng phạm pháp phải từ 100 triệu đồng trở lên.
- BLHS năm 2015 đã lượng hóa giá trị hàng phạm pháp, khởi điểm để cấu thành tội phạm là 100 triệu đồng; lượng hóa giá trị thu lợi bất chính khởi điểm để cấu thành tội phạm là 50 triệu đồng hoặc dưới mức nói trên nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã bị kết án về một số hành vi…Đối với buôn bán hàng cấm qua biên giới thì trị hàng phạm pháp, khởi điểm để cấu thành tội phạm là  50 triệu đồng;
- Bổ sung phạt tiền là hình phạt chính vào khoản 2 của Điều luật, đồng thời nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung (BLHS 1999: từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng, BLHS 2015: từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng);
- Bổ sung việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân có hành vi buôn lậu.
Điều 191. Tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm
Đây là tội phạm được tách ra từ Điều 155 BLHS năm 1999 (Tội  sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm) với mức hình phạt nhẹ hơn so với tội sản xuất, buôn bán hàng cấm. Các tình tiết định tội, định khung cơ bản giống như được nêu về tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (Điều 190) đã nêu ở trên.
Điều 192. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả
- Tội này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở Điều 156 BLHS năm 1999, nhưng theo hướng nghiêm khắc hơn (nâng mức hình phạt khởi điểm của khung 1 từ 6 tháng lên 1 năm, nâng mức khởi điểm khung 2 từ 3 năm lên 5 năm; giảm giá trị hàng giả tương đương hàng thật thuộc cấu thành cơ bản từ 30 triệu đồng đến 150 trệu đồng từ BLHS năm 1999 xuống còn 20 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng đối với trường hợp xác định được theo giá bán, niêm yết, giá ghi trong hóa đơn). Trường hợp không xác định được giá bán, niêm yết, giá ghi trong hóa đơn mà tính theo số lượng hàng thật tương đương có cùng tính năng kỷ thuật, công dụng thì mức giá trị hàng hóa định tội ở cấu thành cơ bản như Điều 156 BLHS năm 1999.
- Cụ thể hóa tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng đối với trường hợp giá trị hàng giả chưa đến mức khởi điểm là gây tổn hại sức khỏe của một người với tỷ lệ từ 31-60%; gây tổn hại cho sức khỏe của 2 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31-60 % hoặc gây thiệt hại tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng. Từ khoản 2 trở lên các hậu quả này cũng được quy định cụ thể đối với các tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng theo tỷ lệ tổn hại sức khỏe và giá trị tài sản.
- Cụ thể hóa giá trị thu lợi bất chính lớn (khoản 2 từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng, khoản 3 từ 500 triệu đồng trở lên).
- Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 2 là “qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại”.
- Bổ sung việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại có hành vi sản xuất, buôn bán hàng cấm.
Điều 193. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm
Tội này được tách ra từ Điều 157 BLHS năm 1999 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh). Những sửa đổi, bổ sung cơ bản là:
- Giảm mức hình phạt (BLHS 1999: Khung 1 quy định 2 năm-7 năm, khung 2: 5-12 năm, khung 3 từ  12-20 năm tù, khung 4 từ tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình; BLHS 2015, khung 1: 2-5 năm, khung 2: 5-10 năm tù; khung 3 từ 10-15 năm, khung 4, từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân);
- Cụ thể hóa các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” bằng các định lượng cụ thể.
- Bổ sung việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân có hành vi phạm tội này.
Điều 194. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, phòng bệnh
Tội này được tách ra từ Điều 157 BLHS năm 1999 (Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh). Những sửa đổi, bổ sung cơ bản là:
- Cụ thể hóa các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” bằng các định lượng cụ thể.
- Bổ sung việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội này.
Điều 195. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi
Những sửa đổi, bổ sung cơ bản là:
- Tăng thêm khung hình phạt (Điều 158 BLHS 1999 có 3 khung, BLHS 2015 có 4 khung); khởi điểm khoản 2 tăng từ 3 năm lên 5 năm, hình phạt cao nhất tăng từ 15 năm  lên 20 năm…
- Thay tình tiết định tội, định khung “số lượng lớn, số lượng rất lớn, số lượng đặc biệt lớn” bằng giá trị hàng giả tính theo giá bán, giá trị niêm yết, giá ghi trong hóa đơn hoặc tính theo giá hàng giả tương đương với giá trị hàng thật có cùng công dụng.
- Cụ thể hóa các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” bằng các mức thiệt hại về tài sản cụ thể.
- Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng “thu lợi bất chính” ở các khoản 2, 3 với các mức định lượng cụ thể.
- Bổ sung việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân có hành vi phạm tội này.
Điều 196. Tội đầu cơ
Những sửa đổi, bổ sung cơ bản so với quy định tại Điều 160 BLHS năm 1999 là:
- Thay các tình tiết số lượng hàng hóa “số lượng lớn, số lượng rất lớn, số lượng đặc biệt lớn” bằng tình tiết giá trị hàng hóa với các mức cụ thể.
- Cụ thể hóa tình tiết “thu lợi bất chính lớn, thu lợi bất chính rất lớn, thu lợi bất chính đặc biệt lớn” bằng các mức định lượng số tiền cụ thể.
- Bổ sung tình tiết “ tái phạm nguy hiểm” ở khoản 3;
- Bỏ các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” ở khoản 1 và tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” ở khoản 3; cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng” bằng tình tiết “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”.
- Giảm mức hình phạt đối với trường hợp phạm tội quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
- Bổ sung việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân có hành vi phạm tội này.
Điều 197. Tội quảng cáo gian dối
Sửa đổi, bổ sung cơ bản so với Điều 168 BLHS năm 1999 là bỏ tình tiết định tội “gây hậu quả nghiêm trọng”; điều đó có nghĩa là, nếu hành vi quảng cáo gian dối về hàng hóa, dịch vụ bắt buộc phải là “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích” mới bị coi là tội phạm và bị xử lý hình sự, kể cả là gây hậu quả nghiêm trọng.
Điều 198. Tội lừa dối khách hàng   
Nội dung sửa đổi, bổ sung cơ bản so với Điều 162 BLHS năm 1999 là:
- Bỏ tình tiết định tội “gây hậu quả nghiêm trọng”;
- Bổ sung tình tiết định khung cơ bản ở khoản 1 là thu lợi bất chính từ 5 triệu đến 50 triệu đồng;
- Cụ thể hóa tình tiết “thu lợi bất chính lớn” ở khoản 2 là từ 50 triệu đồng trở lên.
- Ngoài ra, BLHS 2015 còn bổ sung các tình tiết định khung 2 là: có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; dùng thủ đoạn xảo quyệt.
- Giảm mức hình phạt đối với tội này so với BLHS 1999, cụ thể là: ở khung 1, bỏ hình phạt tù; ở khung 2, giảm hình phạt từ 2 - 7 năm tù xuống còn 1-5 năm tù.
Điều 199. Tội vi phạm các quy định về cung ứng điện
Sửa đổi, bổ sung cơ bản so với Điều 177 BLHS năm 1999 là cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” bằng các con số cụ thể thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản; chia  từ 2 khung hình phạt từ Điều 177 BLHS năm 1999 thành 3 khung hình phạt, nhưng hình phạt tối thiểu và tối đa không thay đổi.
Mục B. CÁC TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC THUẾ, TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG, CHỨNG KHOÁN, BẢO HIỂM
Điều 200. Tội trốn thuế
So với Điều 161 BLHS năm 1999, tội trốn thuế có những sửa đổi cơ bản sau đây:
- BLHS năm 2015 đã liệt kê cụ thể các hành vi trốn thuế ở cấu thành cơ bản, gồm 09 loại hành vi;
- Tăng mức định lượng số tiền trốn thuế ở các khung;
- Bổ sung tình tiết định khung ở khoản 2 là: Có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; phạm tội từ 2 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm (bỏ tình tiết tái phạm); bỏ tình tiết định khung 3 tại Điều 161 BLHS năm 1999 (trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác).
- Sửa đổi hình phạt bổ sung: phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng thay cho phạt tiền từ 1 lần đến 3 lần thuế trốn; bổ sung quy định cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
- Tại khoản 3, bên cạnh hình phạt tù như quy định tại Điều 161 BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 còn bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính để Tòa án lựa chọn áp dụng. Quy định này thể hiện phương châm lấy chế tài mang tính "kinh tế" để xử lý tội phạm về kinh tế.
- Bổ sung việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân có hành vi phạm tội này.
Lưu ý:
- Trong cấu thành cơ bản của tội này, tại điểm g, khoản 1 có quy định hành vi “cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu”; trong thực tiễn lâu nay hành vi này thường bị xử lý về tội buôn lậu, nay sẽ bị xử lý về tội trốn thuế với mức hình phạt nhẹ hơn rất nhiều.
- Tất cả các hành vi khách quan nêu tại Khoản 1 mà nhằm mục đích trốn thuế thì mới chịu TNHS về tội trốn thuế; trường hợp người thực hiện hành vi khách quan nêu trên, ngoài việc trốn thuế mà còn xâm phạm khách thể khác của BLHS thì bị truy cứu TNHS theo điều luật tương ứng.  
- Đối với những trường hợp trốn thuế dưới 100.000.000 đồng thì phải có một trong các điều kiện khác là: Đã đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại 22 điều của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; bao gồm các điều: 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 304, 305, 306, 309, 311.
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
So với Điều 163 BLHS năm 1999, tội này có những sửa đổi cơ bản như sau:
- Cho vay lãi nặng là mức lãi suất gấp 5 lần lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (thay vì 10 lần như BLHS 1999); bỏ tình tiết “có tính chất chuyên bóc lột”, bổ sung các tình tiết “thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc đã bị xử lý hành chính, bị kết án, chưa xóa án tích mà còn vi phạm”. Bộ luật cũng đã lượng hóa số tiền thu lợi bất chính lớn là thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng trở lên.
- Cấu thành cơ bản của tội này nặng hơn so với BLHS năm 1999;
- Cụ thể hóa mức tiền phạt với tính cách là hình phạt chính.
Lưu ý: Kể từ ngày 01/01/2017, cần nghiên cứu kỹ các quy định tại Điều 468, Điều 688 BLDS 2015 và các văn bản có liên quan để giải quyết.
Điều 202. Tội làm, buôn bán tem giả, vé giả
Tội này được sửa đổi cơ bản theo hướng cụ thể hóa số lượng tem giả, vé giả và số tiền thu lợi bất chính để dễ xử lý trong thực tế.
- Khoản 1: Bỏ quy định số lượng lớn; Cụ thể hóa các hành vi khách quan của tội phạm bằng việc định lượng về số lượng, mệnh giá của tem giả, vé giả và số tiền thu lợi bất chính;
- Khoản 2: Bỏ quy định thu lợi bất chính lớn; định lượng cụ thể vào các tình tiết định khung về số lượng, mệnh giá của tem giả, vé giả và số tiền thu lợi bất chính.
- Hình phạt chính và hình phạt bổ sung bằng tiền trong Luật mới cao hơn;
- Khoản 1: Bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ.
Lưu ý: Điều luật đã quy định rõ về định lượng để xử lý đối với người “làm tem giả, vé giả”. Do vậy, chỉ cần chứng minh được người nào đó đã làm giả và đủ định lượng theo quy định của điều luật là có thể xem xét truy cứu TNHS theo điều luật này.
Điều 203. Tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
Những sửa đổi so với qui định tại Điều 164a, BLHS năm 1999 là:
- Cụ thể hóa tình tiết “số lượng lớn” về hóa đơn là “dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số”;
- Bổ sung tình tiết định tội ở cấu thành cơ bản (khoản 1) là: hoặc thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng; đồng thời bỏ tình tiết “hoặc đã bị xử lý hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
- Tại khoản 2 quy định bổ sung khả năng người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng (hoặc bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm), chứ không chỉ bị phạt tù như BLHS năm 1999.
- Cụ thể hóa các khái niệm hóa đơn, chứng từ có số lượng rất lớn hoặc đặc biệt lớn; thu lợi bất chính lớn bằng số tiền cụ thể.
- Bổ sung quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội này.
Điều 204. Tội vi phạm quy định về bảo quản, quản lý hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước
Những sửa đổi so với qui định tại Điều 164b, BLHS năm 1999 là:
- Cụ thể hóa tình tiết định tội “gây hậu quả nghiêm trọng” ở cấu thành cơ bản (khoản 1) bằng việc quy định mức định lượng thiệt hại cho ngân sách Nhà nước hoặc cho người khác từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng; bỏ tình tiết “hoặc đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
- Cụ thể hóa tình tiết định khung 2 “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” bằng việc quy định mức định lượng thiệt hại từ 500 triệu đồng trở lên; bỏ tình tiết định khung 2 “phạm tội có tổ chức”;
- BLHS năm 2015 quy định hình phạt nhẹ hơn đối với tội này so với BLHS năm 1999, cụ thể: khoản 1, bỏ hình phạt tù; khoản 2, bổ sung phạt tiền với tư cách là hình phạt chính; giảm mức phạt tù đối với tội này xuống còn "từ 06 tháng đến 03 năm" (theo BLHS năm 1999 là phạt tù từ 1 đến 5 năm).
- Bổ sung khoản 4 quy định về xử phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội này.
Điều 205. Tội lập quỹ trái phép
- Khoản 1: bãi bỏ tình tiết đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; thay thế tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng" bằng tình tiết "gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước" với mức định lượng cụ thể bằng tiền;
- Khoản 2: bãi bỏ quy định quỹ trái phép có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng gây hậu quả rất nghiêm trọng mà thay vào đó là tình tiết gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước bằng các mức tiền cụ thể.
- Khoản 3: bãi bỏ quy định giá trị của quỹ trái phép gây hậu quả đăcị biệt nghiêm trọng mà thay vào đó là tình tiết gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước bằng các mức tiền cụ thể.
Về hình phạt: Khoản 1: Bổ sung hình phạt tiền và bỏ hình phạt tù; Khoản 2: Bổ sung hình phạt tiền; Giảm mức khởi điểm hình phạt tù từ 03 năm xuống 01 năm; Giảm mức cao nhất hình phạt tù từ 07 năm xuống 05 năm. Khoản 4: hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định ở mức cao hơn.
Điều 206. Tội vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
- Khách thể tội phạm mở rộng phạm vi của tội phạm thêm đối với Chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
- Hành vi khách quan:
+ Khoản 1: Quy định cụ thể các hành vi trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; bỏ quy định gây hậu quả nghiêm trọng bằng việc lượng hóa hậu quả thiệt hại bằng tiền;
+ Khoản 2: Cụ thể hóa dấu hiệu gây hậu quả rất nghiêm trọng bằng việc lượng hóa hậu quả bằng tiền;
+ Khoản 3: Cụ thể hóa dấu hiệu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng bằng việc lượng hóa hậu quả bằng tiền;
Lưu ý: Điều luật mới đã cụ thể các hành vi khách quan hơn, nhưng việc hiểu nội hàm của các hành vi đó như thế nào là vấn đề rất quan trọng. Do đó, trong quá trình áp dụng điều luật này, cần nghiên cứu kỹ các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
 Một số nội dung cơ bản như sau:
a) Cấp tín dụng cho những trường hợp không được cấp tín dụng trừ trường hợp cấp dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng.
Nội hàm của dấu hiệu này bao gồm những đối tượng được quy định tại Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng và đối với khách hàng để đầu tư, kinh doanh trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết.
b) Cấp tín dụng không có bảo đảm hoặc cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho những đối tượng không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;
- Cấp tín dụng không có bảo đảm: Dấu hiệu này không khó, từ trước tới nay vẫn đang áp dụng giải quyết xử lý các đối tượng theo Điều 179 năm 1999;
- Cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho những đối tượng không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật: có thể hiểu là những đối tượng nêu ở điểm a trên đây còn được hưởng điều kiện ưu đãi. Điều kiện ưu đãi được hiểu là: ưu đãi về lãi suất, hồ sơ, trình tự, thủ tục xét duyệt cấp tín dụng, biện pháp bảo đảm nghĩa vụ nợ và các biện pháp xử lý thu hồi nợ so với quy định của pháp luật và các quy định tại Quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay để bảo đảm việc sử dụng vốn vay đúng mục đích áp dụng đối với khách hàng và người có liên quan
c) Vi phạm các hạn chế để bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng hoặc cố ý nâng khống giá trị tài sản bảo đảm khi thẩm định giá để cấp tín dụng;
Về các hạn chế để bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng được quy định tại các điều từ Điều 126 đến Điều 135 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
d) Vi phạm quy định của pháp luật về tổng mức dư nợ tín dụng đối với các đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng. Theo quy định của pháp luật thì:
- Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với các đối tượng: a) Tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên đang kiểm toán tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; thanh tra viên đang thanh tra tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; b) Kế toán trưởng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; c) Cổ đông lớn, cổ đông sáng lập; d) Doanh nghiệp có một trong những đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 126 Luật các tổ chức tín dụng sở hữu trên 10% vốn điều lệ của doanh nghiệp đó; đ) Người thẩm định, xét duyệt cấp tín dụng; không được vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
- Tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với một đối tượng là: công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát không được vượt quá 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng; đối với tất cả các đối tượng nêu trên không được vượt quá 20% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
đ) Cấp tín dụng vượt giới hạn so với vốn tự có đối với một khách hàng và người có liên quan, trừ trường hợp có chấp thuận của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
e) Vi phạm quy định của pháp luật về góp vốn, giới hạn góp vốn, mua cổ phần, điều kiện cấp tín dụng hoặc mua bán tài sản;
Các dấu hiệu này được quy đinh từ Điều 18 đến Điều 20 của Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
g) Phát hành, cung ứng, sử dụng các phương tiện thanh toán không hợp pháp; làm giả chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán; sử dụng chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán giả; tiến hành hoạt động ngân hàng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
- Ý thức chủ quan: Phải là lỗi cố ý (nếu hành vi thực hiện theo lỗi vô ý thì không phạm tội này). Về ý thức chủ quan của người phạm tội có vấn đề đặt ra là:
Thứ nhất: Lỗi cố ý trong tội phạm này cần hiểu là cố ý không thực hiện các quy định mà lẽ ra phải thực hiện, có thể người phạm tội không nghĩ là hậu quả xảy ra, nhưng có thể thấy trước được và có ý thức bỏ mặc (lỗi cố ý gián tiếp)
Thứ hai: Đối với những người vô ý vi phạm quy định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng là doanh nghiệp Nhà nước thì có thể bị xử lý về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.
Về hình phạt: Khoản 1: Hình phạt tiền cao hơn; Khoản 2: Giảm mức khởi điểm hình phạt tù từ 05 năm xuống 03 năm, hình phạt cao nhất từ 12 năm xuống 07 năm; Khoản 3: Giảm mức khởi điểm hình phạt tù từ 10 năm xuống 07 năm, hình phạt cao nhất từ 20 năm xuống 12 năm.
Điều 207. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả
- Bỏ quy định về ngân phiếu giả, công trái giả;
- Khoản 2, Khoản 3: Bỏ quy định nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng bằng việc lượng hóa hậu quả thiệt hại tương ứng bằng tiền;
- Bổ sung Khoản 4 để xử lý đối với người chuẩn bị phạm tội này.
Điều 208. Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành công cụ chuyển nhượng giả hoặc các giấy tờ có giá giả khác
 Về tội phạm: Khoản 1: Bỏ quy định lưu hành séc giả, bổ sung quy định lưu hành công cụ chuyển nhượng giả; Khoản 2, Khoản 3: Bỏ quy định trong trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng bằng việc lượng hóa thiệt hại tương ứng bằng tiền;
Về hình phạt: Khoản 2: Mức cao nhất của khung hình phạt giảm từ 12 năm xuống 10 năm. Tách khoản 3 (quy định hình phạt tù từ 10 năm đến 20 năm) của BLHS năm 1999 thành 02 khoản: khoản 3 quy định hình phạt tù từ 10 năm đến 15 năm; khoản 4 quy định hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.
Điều 209. Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán
Các dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội này cơ bản như quy định tại Điều 181a của luật hình sự năm 1999. Tuy nhiên có một số điểm sửa đổi, bổ sung như sau:
Khoản 1: bãi bỏ quy định gây hậu quả nghiêm trọng; Cụ thể hóa các hành vi khách quan và lượng hóa bằng tiền; Khoản 2: Lượng hóa thu lời bất chính bằng tiền; bãi bỏ quy định gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, lượng hóa hậu quả thiệt hại bằng tiền.
Về hình phạt: Khoản 1: giảm mức khởi điểm của hình phạt từ 06 tháng xuống 03 tháng; Khoản 2: Bổ sung hình phạt tiền vào hình phạt chính; Hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định ở mức cao hơn.
- Bổ sung khoản 4 quy định về xử phạt đối với pháp nhân thương mại.
Điều 210. Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán
- Khoản 1: Quy định thêm điều kiện để truy cứu TNHS là thu lợi bất chính hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư cụ thể bằng tiền;
- Khoản 2: Lượng hóa quy định thu lợi bất chính rất lớn, đặc biệt lớn và gây hậu quả nghiêm trọng bằng tiền.
Về hình phạt: Khoản 1: Hình phạt tiền quy định ở mức cao hơn; Khoản 2: Bổ sung hình phạt tiền vào hình phạt chính; Hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định ở mức cao hơn.
- Bổ sung khoản 4 quy định về xử phạt đối với pháp nhân thương mại.
Điều 211. Tội thao túng thị trường chứng khoán
- Khoản 1: Bỏ quy định gây hậu quả nghiêm trọng, lượng hóa hậu quả thành tiền; Cụ thể hóa các hành vi khách quan trong lĩnh vực hoạt động chứng khoán;
- Khoản 2: Lượng hóa quy định thu lợi bất chính lớn bằng tiền; bỏ quy định gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, xác định rõ hậu quả xảy ra đối với nhà đầu tư và lượng hóa hậu quả đó bằng tiền;
Về hình phạt:
- Khoản 1: Bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính; bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ;
- Khoản 2: Bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính;
- Hình phạt bổ sung bằng tiền cao hơn;
- Quy định mới về xử phạt đối với pháp nhân thương mại (Khoản 4).
Điều 212. Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán
Làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán là một tội danh mới trong nhóm các tội liên quan lĩnh vực chứng khoán của BLHS 2015, nhằm xử lý triệt để các hành vi vi phạm trong lĩnh vực này mà trên thực tế, chế tài hành chính xử lý các vi phạm đó không không đủ sức răn đe, trong khi đó thị trường chứng khoán là thị trường tương đối nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn tới sự ổn định, phát triển của nền kinh tế đất nước.
Về bản chất, làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán có những hành vi khách quan như tội Làm giả giấy tờ tài liệu của cơ quan, tổ chức... (Điều 341). Nhưng chỉ khi có hành vi làm giả hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán theo quy định của pháp luật và có thu lời bất chính hoặc gây thiệt hại cho nhà đầu tư (liên quan đến hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán) thì truy cứu TNHS theo tội này.
- Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Điều này cá nhân, bất kỳ người nào đủ năng lực TNHS và từ đủ 16 tuổi trở lên.
- Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý.
- Về khách thể của tội phạm: Khách thể đối với tội phạm này là hoạt động đúng đắn của: Tổ chức chào bán cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng, chào bán cổ phiếu để hoán đổi; Công ty đại chúng; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
-  Về mặt khách quan của tội phạm:
 Mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện qua hành vi làm giả (làm sai bản chất, làm không đúng sự thật…) đối với tài liệu trong hồ sơ chào bán và hồ sơ niêm yết chứng khoán
+ Hồ sơ chào bán chứng khoán bao gồm các thủ tục, giấy tờ, tài liệu được quy định từ Điều 05 đến Điều 18 của Thông tư số 162/2015/TT-BTC ngày 26/10/2015 của Bộ Tài chính.
+ Hồ sơ niêm yết chứng khoán bao gồm các thủ tục, giấy tờ, tài liệu được quy định tại Điều 5 của Thông tư số 73/2013/TT-BTC ngày 29/5/2013 của Bộ Tài chính.
Điều 213. Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm
Gian lận trong kinh doanh bảo hiểm là một tội danh mới trong nhóm các tội liên quan đến bảo hiểm của BLHS năm 2015. Về bản chất, tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, nên được xây dựng thành một tội phạm độc lập thuộc Chương này.
a) Về chủ thể của tội phạm:
 Chủ thể thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Điều này gồm cá nhân và pháp nhân thương mại.
 - Cá nhân bao gồm 2 loại đối tượng: (1) khách hàng tham gia bảo hiểm; (2) những người đang làm việc trong tổ chức kinh doanh bảo hiểm -  là người có thẩm quyền nhất định, có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm, thường là người có trách nhiệm trong việc xác minh có hay không sự kiện bảo hiểm xảy ra, hay người có thẩm quyền quyết định mức bảo hiểm.
- Pháp nhân thương mại gồm (1) pháp nhân thương mại kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm và (2) bất cứ pháp nhân thương mại nào là khách hàng tham gia bảo hiểm.
b) Về mặt chủ quan của tội phạm:
Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý, bởi hành vi phạm tội được mô tả qua những hành vi như “thông đồng với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm…, Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin …, Tự gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợ bảo hiểm…”.
c) Về khách thể của tội phạm:
Khách thể cần được bảo vệ của tội phạm này có thể chia thành khách thể trực tiếp và khách thể gián tiếp.
Khách thể trực tiếp chính là quyền và lợi ích của khách hàng tham gia bảo hiểm, của các công ty kinh doanh bảo hiểm.
Khách thể gián tiếp là sự ổn định, sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nền an sinh xã hội, môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài và hơn nữa là sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
d) Về mặt khách quan của tội phạm:
 Mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện qua 04 loại hành vi gồm:
(i) Thông đồng với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật;
(ii) Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin để từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;
(iii) Giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin trong hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm;
(iv) Tự gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi bảo hiểm trừ trường hợp luật quy định khác.
đ) Khung hình phạt:
- Về cấu thành cơ bản của tội phạm:
Theo quy định của Điều luật này thì có 2 cấu thành cơ bản phân định theo 02 loại chủ thể của tội phạm.
+ Đối với chủ thể là cá nhân thì một cá nhân sẽ bị coi là phạm tội này nếu thuộc một trong 02 trường hợp: (i) thực hiện một trong 04 loại hành vi nêu trên và đồng thời chiếm đoạt tiền bảo hiểm từ 20.000.000 đồng trở lên; (ii) thực hiện một trong 04 loại hành vi nêu trên mà chưa chiếm đoạt được tiền bảo hiểm hoặc chiếm đoạt được số tiền bảo hiểm là dưới 20.000.000 đồng nhưng hành vi của người đó đã gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng trở lên.
+ Đối với chủ thể là pháp nhân thương mại thì một pháp nhân thương mại sẽ bị coi là phạm tội này nếu thuộc một trong 02 trường hợp: (i) thực hiện một trong 04 loại hành vi nêu trên và chiếm đoạt từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; (ii) thực hiện một trong 04 loại hành vi nêu trên mà chưa chiếm đoạt được tiền bảo hiểm hoặc chiếm đoạt được số tiền bảo hiểm là dưới 200.000.000 đồng nhưng hành vi của người đó đã gây thiệt hại từ 400.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng. Quy định này nhằm hạn chế việc xử lý hình sự đối với pháp nhân, bởi việc xử lý hình sự pháp nhân sẽ có một số ảnh hưởng tiêu cực tới sự phát triển kinh tế - xã hội. Chỉ xử lý hình sự pháp nhân trong trường hợp pháp nhân phạm tội với mức độ nghiêm trọng hơn so với cá nhân.
- Chế tài hình sự: Điều luật này quy định hình phạt phù hợp đối với mỗi loại chủ thể thực hiện tội phạm.
Hình phạt đối với cá nhân: gồm 03 loại hình phạt chính là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ và phạt tù có thời hạn. Ngoài ra, cùng với hình phạt chính, cá nhân còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.
Hình phạt đối với pháp nhân: hình phạt chính đối với pháp nhân phạm tội này chỉ có một hình phạt duy nhất, đó là phạt tiền. Theo đó, pháp nhân phạm tội sẽ bị phạt tiền với mức phạt thấp nhất là 200.000.000 đồng và cao nhất là 7.000.000.000 đồng. Ngoài ra, pháp nhân còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Lưu ý: Trong hành vi khách quan của tội này có một số dấu hiệu gần giống tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, trong thực tiễn, khi hành vi của một người xâm phạm đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm, đủ căn cứ khác theo quy định của pháp luật để truy cứu TNHS thì xử lý về tội này.
Điều 214. Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp
  Gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cũng là một trong những tội danh mới được bổ sung vào BLHS năm 2015.
- Về chủ thể của tội phạm: chủ thể thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Điều này là cá nhân.
Cá nhân bao gồm 2 loại đối tượng: (1)  những khách hàng tham gia bảo hiểm; (2) những người đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan bảo hiểm.
- Về mặt chủ quan của tội phạm: tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý, bởi hành vi phạm tội được mô tả qua những hành vi như “Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ…, Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội …”.
- Về khách thể của tội phạm: khách thể cần được bảo vệ của tội phạm này có thể chia thành khách thể trực tiếp và khách thể gián tiếp.
Khách thể trực tiếp chính là quyền và lợi ích của người lao động, người tham gia bảo hiểm, người dân.
Khách thể gián tiếp là sự ổn định, an toàn của chính sách phúc lợi, an sinh xã hội, là sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
- Về mặt khách quan của tội phạm: mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện qua 2 loại hành vi, đó là: (1) Lập hồ sơ giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ bảo hiểm xã hội, hồ sơ bảo hiểm thất nghiệp lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội; (2) Dùng hồ sơ giả hoặc hồ sơ đã bị làm sai lệch nội dung lừa dối cơ quan bảo hiểm xã hội hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
- Về cấu thành cơ bản của tội phạm: Theo quy định của Điều luật này thì người nào thực hiện một trong 02 loại hành vi nêu trên và đồng thời chiếm đoạt tiền bảo hiểm từ 10.000.000 đồng trở lên; thực hiện một trong 02 loại hành vi nêu trên mà chưa chiếm đoạt được tiền bảo hiểm hoặc chiếm đoạt được số tiền bảo hiểm là dưới 10.000.000 đồng nhưng hành vi của người đó đã gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng trở lên nếu không thuộc một trong các trường hợp (1) lừa đảo chiếm đoạt tài sản; (2) tham ô tài sản; (3) lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
- Chế tài hình sự: Hình phạt mà Điều luật này quy định đối với người phạm tội gồm 03 loại hình phạt: (1) phạt tiền; (2) phạt cải tạo không giam giữ và (3) phạt tù có thời hạn. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
Lưu ý:
- Trong hành vi khách quan của tội này có những dấu hiệu gần giống tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, trong thực tiễn, khi hành vi của một người xâm phạm đến hoạt động đúng đắn trong hoạt động của cơ quan bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chiếm đoạt tiền bảo hiểm, loại trừ trường hợp phạm vào các tội quy định tại các điều 174, 353, 355 và có đủ căn cứ khác theo quy định của pháp luật để truy cứu TNHS thì xử lý về tội này.
Điều 215. Tội gian lận bảo hiểm y tế
Cùng với việc bổ sung tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, BLHS năm 2015 đã bổ sung tội gian lận bảo hiểm y tế.
- Về chủ thể của tội phạm: chủ thể thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Điều này là cá nhân phạm tội.
Cá nhân bao gồm 2 loại đối tượng: (i) những khách hàng tham gia bảo hiểm y tế và (ii) những người  đang làm việc trong các bệnh viện, cơ sở y tế, cơ quan bảo hiểm.
- Về mặt chủ quan của tội phạm: tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý, bởi hành vi phạm tội được mô tả qua những hành vi như Lập hồ sơ bệnh án, kê đơn thuốc khống hoặc kê tăng số lượng hoặc thêm loại thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật, …, Giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế hoặc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế được cấp khống, thẻ bảo hiểm y tế giả, thẻ đã bị thu hồi, thẻ bị sửa chữa…”.
- Về khách thể của tội phạm: khách thể cần được bảo vệ của tội phạm này có thể chia thành khách thể trực tiếp và khách thể gián tiếp.
Khách thể trực tiếp chính là quyền và lợi ích của người bệnh tham gia bảo hiểm, người người lao động, người dân.
Khách thể gián tiếp là sự ổn định, an toàn của chính sách phúc lợi, an sinh xã hội, là sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
- Về mặt khách quan của tội phạm: mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện qua 2 loại hành vi, đó là;
(i) Lập hồ sơ bệnh án, kê đơn thuốc khống hoặc kê tăng số lượng hoặc thêm loại thuốc, vật tư y tế, dịch vụ kỹ thuật, chi phí giường bệnh và các chi phí khác mà thực tế người bệnh không sử dụng;
(ii) Giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế hoặc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế được cấp khống, thẻ bảo hiểm y tế giả, thẻ đã bị thu hồi, thẻ bị sửa chữa, thẻ bảo hiểm y tế của người khác trong khám chữa bệnh hưởng chế độ bảo hiểm y tế trái quy định.
- Về cấu thành cơ bản của tội phạm: Theo quy định của Điều luật này thì người nào thực hiện một trong 02 loại hành vi nêu trên và đồng thời chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế từ 10.000.000 đồng trở lên; thực hiện một trong 02 loại hành vi nêu trên mà chưa chiếm đoạt được tiền bảo hiểm hoặc chiếm đoạt được số tiền bảo hiểm là dưới 10.000.000 đồng nhưng hành vi của người đó đã gây thiệt hại từ 20.000.000 đồng trở lên nếu không thuộc một trong các trường hợp (1) lừa đảo chiếm đoạt tài sản; (2) tham ô tài sản; (3) lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.
- Chế tài hình sự: Hình phạt mà Điều luật này quy định đối với người phạm tội gồm 03 loại hình phạt (i) phạt tiền; (ii) phạt cải tạo không giam giữ và (iii) phạt tù có thời hạn. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung  là phạt tiền hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.
 Lưu ý:
- Trong thực tiễn, khi hành vi của một người xâm phạm đến hoạt động đúng đắn trong hoạt động của cơ quan bảo hiểm y tế, chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế, loại trừ trường hợp phạm vào các tội quy định tại các điều 174, 353, 355 và có đủ căn cứ khác theo quy định của pháp luật để truy cứu TNHS thì xử lý về tội này.
Điều 216. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động
Trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động là tội danh mới được bổ sung vào BLHS năm 2015.
- Về chủ thể của tội phạm: chủ thể thực hiện hành vi phạm tội quy định tại Điều này gồm cá nhân và pháp nhân thương mại.
- Về mặt chủ quan của tội phạm: tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý, bởi hành vi phạm tội được mô tả: “người nào có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ…”
- Về khách thể của tội phạm: khách thể cần được bảo vệ của tội phạm này có thể chia thành khách thể trực tiếp và khách thể gián tiếp.
Khách thể trực tiếp chính là quyền và lợi ích của người lao động, người tham gia bảo hiểm.
Khách thể gián tiếp là sự ổn định, an toàn của chính sách phúc lợi, an sinh xã hội, là sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
- Về mặt khách quan của tội phạm: mặt khách quan của tội phạm này được thể hiện qua hành vi trốn đóng hoặc không đóng đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định từ 06 tháng trở lên thông qua thủ đoạn gian dối hoặc thủ đoạn khác.
- Về cấu thành cơ bản của tội phạm: Theo quy định của Điều luật này thì cá nhân hoặc pháp nhân thương mại sẽ bị coi là phạm tội nếu thuộc một trong 02 trường hợp: (i) thực hiện hành vi nêu trên với số tiền trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng trở lên; (ii) thực hiện hành vi nêu trên đối với từ 10 người lao động trở lên.
- Chế tài hình sự: Điều luật này quy định hình phạt phù hợp đối với mỗi loại chủ thể thực hiện tội phạm.
Hình phạt đối với cá nhân: gồm 03 loại hình phạt chính là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ và phạt tù có thời hạn. Ngoài ra, cùng với hình phạt chính, cá nhân còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.
Hình phạt đối với pháp nhân: hình phạt chính đối với pháp nhân phạm tội này chỉ có một hình phạt duy nhất, đó là phạt tiền. Theo đó, pháp nhân phạm tội sẽ bị phạt tiền với mức phạt thấp nhất là 200.000.000 đồng và cao nhất là 3.000.000.000 đồng.
MỤC 3: CÁC TỘI PHẠM KHÁC XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ
Điều 217. Tội vi phạm quy định về cạnh tranh
Đây là một điều luật mới lần đầu tiên được quy định trong BLHS nhằm bảo đảm điều kiện bình đẳng cho các chủ thể kinh tế tham gia thị trường, bởi vì cạnh tranh lành mạnh là động lực phát triển của nền kinh tế. Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng như sau:
* Về hành vi khách quan
- Trực tiếp tham gia hoặc thực hiện các hành vi vi phạm quy định về cạnh tranh như: thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh;
- Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận;
- Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi các bên tham gia thỏa thuận có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan 30% trở lên thuộc một trong các trường hợp:
+ Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp;
+ Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, nguồn cung dịch vụ;
+ Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ;
+ Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng.
* Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm này có thể là cá nhân và pháp nhân thương mại. Đối với chủ thể là cá nhân: Thường là các chủ doanh nghiệp với nhau hoặc chủ doanh nghiệp câu kết với người có chức vụ, quyền hạn trong những lĩnh vực quản lý kinh tế nhất định.
 Đối với pháp nhân (thường là các doanh nghiệp với nhau) thực hiện hành vi phạm tội thì hình phạt ngoài phạt tiền còn có thể bị đình chỉ hoạt động có thời hạn với thời hạn từ 6 tháng đến 2 năm hoặc bị cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
* Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm có lỗi cố ý.
* Về khách thể bị xâm hại: Tội phạm xâm phạm đến quyền tự do cạnh tranh một cách hợp pháp của các doanh nghiệp tham gia thị trường; cạnh tranh không lành mạnh ảnh hưởng đến lợi ích của các doanh nghiệp, của thị trường cũng như nền kinh tế.
Điều 218. Tội vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản
Đây là điều luật mới lần đầu tiên được quy định trong BLHS, về thực chất là cụ thể hóa tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước trong quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng tại Điều 165 BLHS năm 1999 trong trong hoạt động bán đấu giá tài sản.
Tuy nhiên, khác với quy định về tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước trong quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng, trong cấu thành của tội này không chỉ quy định hậu quả thiệt hại gây ra cho người khác (từ 50 triệu đồng trở lên) mà hoặc là thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên cũng đã cấu thành tội phạm. Mặt khác, khung hình phạt nhẹ hơn rất nhiều so với tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước trong quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng (khung cơ bản quy định mức tối thiểu là phạt tiền 20 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 2 năm, khung hình phạt cao nhất là phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 1 tỷ đồng hoặc phạt tù 1- 5 năm tù, so với khung khởi điểm của Điều 165 BLHS năm 1999 là cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm; khung hình phạt cao nhất là từ 10 năm đến 20 năm tù)
Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng như sau:
* Về hành vi khách quan
- Lập danh sách khống về người đăng ký mua tài sản bán đấu giá;
- Lập hồ sơ khống, hồ sơ giả tham gia hoạt động bán đấu giá tài sản;
- Thông đồng dìm giá hoặc nâng giá trong hoạt động bán đấu giá tài sản.
* Về chủ thể của tội phạm: Là bất kỳ người nào có chức trách trong việc lập danh sách về người đăng ký mua tài sản bán đấu giá đã có hành vi lập khống danh sách này hoặc là người không đủ điều kiện tham gia hoạt động bán đấu giá tài sản đã lập hồ sơ khống, hồ sơ giả để tham gia hoạt động bán đấu giá tài sản hoặc là người trong hội đồng bán đấu giá tài sản thông đồng với người ngoài để dìm hoặc nâng giá trong hoạt động bán đấu giá tài sản; cũng có thể là những người tham gia đấu giá thông đồng với nhau.
* Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm có lỗi cố ý.
* Về khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu có tài sản bán đấu giá; xâm phạm đến quyền lợi bình đẳng trong hoạt động đấu giá của những người tham gia đấu giá.
Điều 219. Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí
Đây là tội phạm cụ thể hóa tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước trong quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng tại Điều 165 BLHS năm 1999 trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước và có cấu thành, khung hình phạt giống như tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước trong quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng tại Điều 165 BLHS năm 1999.
Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng sau:
* Về hành vi khách quan: Vi phạm các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này thì bị coi là tội phạm.
* Về chủ thể của tội phạm: Là người được giao nhiệm vụ quản lý, sử dụng tài sản nhà nước (thông thường sẽ là người có chức vụ, quyền hạn) mà gây thất thoát, lãng phí với định lượng hoặc điều kiện như đã nêu trên
* Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm có lỗi cố ý.
* Về khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm trực tiếp đến tài sản của Nhà nước.
Điều 220. Tội vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng
Tội này cụ thể hóa tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước trong quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng tại Điều 165 BLHS năm 1999 trong lĩnh vực quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước và có cấu thành, khung hình phạt gần giống  với tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước trong quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng tại Điều 165 BLHS năm 1999 với những đặc trưng pháp lý sau:
* Về hành vi khách quan:
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi gây thiệt hại hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, bao gồm:
+ Vi phạm quy định về quyết định chủ trương đầu tư;
+ Vi phạm quy định về lập, thẩm định chủ trương đầu tư;
+ Vi phạm quy định về quyết định đầu tư chương trình, dự án;
+ Vi phạm quy định về tư vấn, thiết kế chương trình, dự án.
* Về chủ thể của tội phạm: Là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến hoạt động quản lý và sử dụng vốn đầu tư công.
* Về mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội này do lỗi cố ý.
* Về khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm đến tính đúng đắn trong hoạt động quản lý và sử dụng vốn đầu tư công của Nhà nước, gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước.
Điều 221. Tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng
Đây là tội cụ thể hóa Tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng của BLHS năm 1999 xảy ra trong lĩnh vực kế toán với những đặc trưng pháp lý sau:
* Về hành vi khách quan:
- Là việc đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi gây thiệt hại hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, bao gồm:
+ Giả mạo, khai man, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác giả mạo, khai man, tẩy xóa tài liệu kế toán;
+ Dụ dỗ, thỏa thuận hoặc ép buộc người khác cung cấp, xác nhận thông tin, số liệu kế toán sai sự thật;
+ Để ngoài sổ kế toán tài sản của đơn vị kế toán hoặc tài sản liên quan đến đơn vị kế toán;
+ Huỷ bỏ hoặc cố ý làm hư hỏng tài liệu kế toán trước thời hạn lưu trữ quy định của Luật kế toán;
+ Lập hai hệ thống sổ kế toán tài chính trở lên nhằm bỏ ngoài sổ kế toán tài sản, nguồn vốn, kinh phí của đơn vị kế toán.
* Về chủ thể của tội phạm: Là người nào có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động kế toán hoặc lợi dụng chức vụ, quyền hạn dụ dỗ, thỏa thuận, ép buộc người khác vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.
* Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm có lỗi cố ý.
* Về khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm đến tính đúng đắn trong hoạt động kế toán, ảnh hưởng đến tính chính xác của thông tin về tình hình kinh tế, tài chính, nguồn vốn, kinh phí của đơn vị. Gây thiệt hại về tài chính cho đơn vị cũng như của Nhà nước.
Điều 222. Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng
Đây cũng là một tội cụ thể hóa từ Tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng của BLHS năm 1999 xảy ra trong lĩnh đấu thầu, nhưng mở rộng sang cả lĩnh vực ngoài Nhà nước với những đặc trưng pháp lý sau:
* Về hành vi khách quan:
- Can thiệp trái pháp luật vào hoạt động đấu thầu;
- Thông thầu;
- Gian lận trong đấu thầu;
- Cản trở hoạt động đấu thầu;
- Vi phạm quy định của pháp luật về bảo đảm công bằng, minh bạch trong hoạt động đấu thầu;
- Tổ chức lựa chọn nhà thầu khi nguồn vốn cho gói thầu chưa được xác định dẫn đến nợ đọng vốn của nhà thầu;
- Chuyển nhượng thầu trái phép.
Tất cả các hành vi nêu trên phải gây thiệt hại từ 100 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm mới được coi là cấu thành tội phạm.
* Về chủ thể của tội phạm: Theo Điều luật thì chủ thể là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định đã thực hiện một trong các hành vi nêu trên (người lợi dụng chức vụ, quyền hạn là tình tiết định khung ở khoản 2).
* Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm có lỗi cố ý.
* Về khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm đến tính đúng đắn của hoạt động đấu thầu là cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. Gây tổn hại đến ngân sách quốc gia, kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp. 
Điều 223. Tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng
Đây là một tội phạm mới lần đầu tiên được quy định trong BLHS với những dấu hiệu pháp lý đặc trưng sau:
*Về hành vi khách quan:
 Là việc một người lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau, gây thất thoát tiền thuế phải nộp từ 100 triệu đến dưới 300 triệu hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, bao gồm:
- Thực hiện việc miễn thuế, giảm thuế, xóa nợ tiền thuế, xóa nợ tiền phạt, hoàn thuế không đúng quy định của Luật quản lý thuế và các quy định khác của pháp luật về thuế;
- Xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế không đúng quy định Luật quản lý thuế và quy định khác của pháp luật về thuế.
* Về chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội phạm là người có chức vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý thuế.
* Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm có lỗi cố ý.
* Về khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm đến tính đúng đắn trong hoạt động quản lý thuế của Nhà nước, gây thiệt hại cho việc thu ngân sách, tạo sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp tham gia thị trường và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế.
Điều 224. Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng
Đây cũng là tội cụ thể hóa từ Tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng của BLHS năm 1999 trong lĩnh vực đầu tư công trình xây dựng với những đặc trưng pháp lý sau:
* Về hành vi khách quan:
- Là việc đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi gây thiệt hại hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, bao gồm:
+ Quyết định đầu tư xây dựng không đúng quy định của Luật xây dựng;
+ Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, điều chỉnh dự toán, nghiệm thu công trình sử dụng vốn của Nhà nước trái với quy định của Luật xây dựng;
+ Lựa chọn nhà thầu không đủ điều kiện năng lực để thực hiện hoạt động xây dựng;
+ Dàn xếp, thông đồng làm sai lệch kết quả lập dự án, khảo sát, thiết kế, giám sát thi công, xây dựng công trình.
* Về chủ thể của tội phạm: Là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến lĩnh vực đầu tư công trình xây dựng.
* Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm có lỗi cố ý.
* Về khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm đến công tác quản lý đầu tư xây dựng của Nhà nước. Làm giảm hiệu quả đầu tư, ảnh hưởng đến chất lượng các công trình xây dựng cũng như sự tăng trưởng của nền kinh tế.
Điều 225. Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan
Đây là điều luật kế thừa từ Điều 170a BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), với những điểm mới cơ bản như sau:
- Bộ luật hình sự năm 2015 bỏ quy định “quy mô thương mại” và thay bằng quy định cụ thể “thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”.
- Thay đổi mức phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng xuống còn từ 50 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng và tăng mức tối đa của hình phạt cải tạo không giam giữ từ 2 năm thành 3 năm.
- Cụ thể hóa tình tiết “phạm tội nhiều lần” thành “phạm tội từ hai lần trở lên”, đồng thời bổ sung một số trường hợp sau:
+ Thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng trở lên;
+ Gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan 500 triệu đồng trở lên;
+ Hàng hóa vi phạm có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên.
- Bổ sung quy định mới về pháp nhân thương mại cũng là chủ thể của tội phạm với mức phạt tiền tối đa lên đến 3 tỷ đồng; bị đình chỉ hoạt động đến 2 năm hoặc cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 đến 3 năm.
Điều 226. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp
Đây là điều luật kế thừa từ Điều 171 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), với những điểm mới cơ bản tương tự với tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, cụ thể như sau:
- Bỏ quy định “quy mô thương mại” và thay bằng quy định cụ thể “thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 300 triệu đồng hoặc gây thiệt hại cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc hàng hóa vi phạm trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”.
- Giữ mức phạt tiền theo quy định cũ từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng, nhưng tăng mức tối đa của hình phạt cải tạo không giam giữ từ 2 năm lên 3 năm.
- Tăng mức hình phạt tiền tối thiểu tại khoản 2 từ 400 triệu đồng lên 500 triệu đồng. Đồng thời, cụ thể hóa quy định “phạm tội nhiều lần” thành “phạm tội từ 2 lần trở lên”. Ngoài ra, bổ sung các điểm mới làm tình tiết định khung tăng nặng của khoản 2 điều này gồm:
+ Thu lợi bất chính từ 300 triệu đồng trở lên;
+ Gây thiệt hại cho chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý 500 triệu đồng trở lên;
+ Hàng hóa vi phạm trị giá 500 triệu đồng trở lên.
- Bổ sung quy định về pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm này với mức hình phạt là phạt tiền tối thiểu là 500 triệu đồng, tối đa là 5 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 đến 3 năm.
Điều 227. Tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò và khai thác tài nguyên
Đây là điều luật kế thừa từ Điều 172 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), với những điểm mới cơ bản như sau:
- Cụ thể hóa tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 1 Điều 172 thành các trường hợp sau:
+ Thu lợi bất chính từ nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên nước, dầu khí hoặc loại khoáng sản khác từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
+ Khoáng sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
- Cụ thể hóa tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 2 Điều 172 thành các trường hợp sau:
+ Thu lợi bất chính từ nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên nước, dầu khí hoặc loại khoáng sản khác 500.000.000 đồng trở lên;
+ Khoáng sản trị giá 1.000.000.000 trở lên;
+ Có tổ chức;
+ Gây sự cố môi trường;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 04 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;
+ Làm chết người.
Ngoài ra, còn bổ sung quy định về mức phạt tiền tại khoản 2 Điều này số tiền phạt từ 1,5 tỷ đồng đến 5 tỷ đồng, đồng thời, giảm mức hình phạt tù từ 2 đến 10 năm tù xuống còn từ 2 đến 7 năm tù.
- Bổ sung quy định về pháp nhân thương mại trong tội phạm này với mức phạt tiền tối thiểu từ 1,5 tỷ đồng đến tối đa là 7 tỷ đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn đến 3 năm; cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 đến 3 năm.
Điều 228. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
Đây là điều luật kế thừa từ Điều 173 của BLHS năm 1999 với những sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
- Khoản 1: Thay cụm từ “của Nhà nước” bằng cụm từ “của pháp luật” và bỏ quy định “gây hậu quả nghiêm trọng”;  tăng mức phạt tiền (là hình phạt chính) từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng lên gấp 10 lần “từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng” và tăng mức tối thiểu của hình phạt tù từ 3 tháng lên 6 tháng.
-  Khoản 2: Tăng mức phạt tiền (là hình phạt chính tại khoản 2) từ 30 triệu đến 100 triệu đồng lên từ 500 triệu đồng đến 2 tỷ đồng. Sửa tình tiết “phạm tội nhiều lần” thành “phạm tội từ 2 lần trở lên”. Đồng thời, bổ sung tình tiết định khung tăng nặng “tái phạm nguy hiểm”.
- Khoản 3: Tăng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 5 triệu đồng đến 20 triệu đồng lên từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng.
Điều 229. Tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai
Đây là điều luật kế thừa từ Điều 174 của BLHS năm 1999 với những sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
- Khoản 1: cụ thể hóa tình tiết có tính định tính “đất có diện tích lớn hoặc có giá trị lớn” và “gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 1 Điều 174 BLHS 1999 bằng:
+ Đất trồng lúa có diện tích từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 30.000 mét vuông (m2); đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất có diện tích từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2); đất nông nghiệp khác và đất phi nông nghiệp có diện tích từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 40.000 mét vuông (m2);
+ Đất có giá trị quyền dụng đất được quy thành tiền từ 500.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng đối với đất nông nghiệp hoặc từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng đối với đất phi nông nghiệp;
- Khoản 2: cụ thể hóa các tình tiết có tính định tính “đất có diện tích rất lớn hoặc có giá trị rất lớn”; “gây hậu quả rất nghiêm trọng” tại khoản 2 Điều 174 BLHS 1999 bằng:
+ Đất trồng lúa có diện tích từ 30.000 mét vuông (m2) đến dưới 70.000 mét vuông (m2); đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất có diện tích từ 50.000 mét vuông (m2) đến dưới 100.000 mét vuông (m2); đất nông nghiệp khác và đất phi nông nghiệp có diện tích từ 40.000 mét vuông (m2) đến dưới 80.000 mét vuông (m2);
+ Đất có giá trị quyền dụng đất được quy thành tiền từ 2.000.000.000 đồng đến dưới 7.000.000.000 đồng đối với đất nông nghiệp hoặc từ 5.000.000.000 đồng đến dưới 15.000.000.000 đồng đối với đất phi nông nghiệp;
Ngoài ra, Điều 229 BLHS năm 2015 còn bổ sung quy định: “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” là tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2.
- Khoản 3: Cụ thể hóa các tình tiết “đất có diện tích đặc biệt lớn hoặc có giá trị đặc biệt lớn” và “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 3 Điều 174 BLHS 1999 bằng:
+ Đất trồng lúa có diện tích 70.000 mét vuông (m2) trở lên; đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất có diện tích 100.000 mét vuông (m2) trở lên; đất nông nghiệp khác và đất phi nông nghiệp có diện tích 80.000 mét vuông (m2) trở lên;
+ Đất có giá trị quyền sử dụng đất được quy thành tiền 7.000.000.000 đồng trở lên đối với đất nông nghiệp hoặc 15.000.000.000 đồng trở lên đối với đất phi nông nghiệp.
Điều 230. Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Đây cũng là một tội phạm cụ thể hóa từ Tội cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng của BLHS năm 1999 trong lĩnh vực bồi thường, hố trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.  
* Về hành vi khách quan: Là việc một người đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình có hành vi gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, bao gồm:
+ Vi phạm quy định của pháp luật về bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư;
+ Vi phạm quy định của pháp luật về bồi thường về tài sản, về sản xuất kinh doanh.
* Về chủ thể của tội phạm: Là người có chức vụ, quyền hạn trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
* Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm có lỗi cố ý.
* Về khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm đến tính đúng đắn trong hoạt động quản lý Nhà nước trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Xâm phạm đến lợi ích hợp pháp, gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước hoặc của những người là đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi bị Nhà nước thu hồi đất. Gây thiệt hại đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Điều 231. Tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ
Đây là điều luật được kế thừa từ Điều 169 của BLHS năm 1999 với những sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 1 Điều 169 BLHS năm 1999 bằng quy định “gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng” tại khoản 1 Điều 231 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Không quy định hình phạt tù tại khoản 1 Điều 231, đồng thời, bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính trong khoản này với mức tiền phạt từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng.
- Bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính tại khoản 2 Điều 231 với mức tiền phạt từ 200 triệu đến 1 tỷ đồng. Cụ thể hóa tình tiết “phạm tội nhiều lần” tại điểm b, khoản 2 thành “phạm tội từ 2 lần trở lên”.
- Tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 169 BLHS 1999 được cụ thể hóa tại các điểm c, d khoản 2 Điều 231 BLHS 2015 như sau:
+ Gây thiệt hại hoặc thất thoát tiền, hàng cứu trợ 300.000.000 đồng trở lên;
+ Gây ảnh hưởng xấu về an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Điều 232. Tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Đây là điều luật được kế thừa từ Điều 175 của BLHS năm 1999 với những sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
- Bổ sung quy định “quản lý lâm sản” vào tiêu đề của điều luật để mở rộng phạm vi đối tượng có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý lâm sản cũng bị xử lý hình sự theo Điều này.
- Cụ thể hóa các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” bằng các mức định lượng cụ thể, đồng thời, bổ sung quy định loại trừ “nếu không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 243 của Bộ luật này”, cụ thể như sau:
+ Khai thác trái phép rừng sản xuất với khối lượng từ 20 mét khối (m3) đến dưới 40 mét khối (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 12,5 mét khối (m3) đến dưới 25 mét khối (m3) gỗ loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
+  Khai thác trái phép rừng phòng hộ với khối lượng từ 15 mét khối (m3) đến dưới 30 mét khối (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 10 mét khối (m3) đến dưới 20 mét khối (m3) gỗ loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
+ Khai thác trái phép rừng đặc dụng với khối lượng từ 15 mét khối (m3) đến dưới 30 mét khối (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 5 mét khối (m3) đến dưới 10 mét khối (m3) gỗ loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA; thực vật thuộc Nhóm IIA trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;
+ Khai thác trái phép thực vật rừng ngoài gỗ trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
+ Khai thác thực vật thuộc loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ, các loại thực vật khác thuộc Nhóm IA trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng hoặc từ 01 mét khối (m3) đến dưới 02 mét khối (m3) gỗ tại rừng sản xuất hoặc từ 0,5 mét khối (m3) đến dưới 1,5 mét khối (m3) tại rừng phòng hộ hoặc từ 0,5 mét khối (m3) đến dưới 01 mét khối (m3) gỗ tại rừng đặc dụng hoặc khu bảo tồn thiên nhiên;
+ Tàng trữ, vận chuyển, chế biến, mua bán trái phép từ 1,5 mét khối (m3) đến dưới 03 mét khối (m3) đối với gỗ loài nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài của loài thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; từ 10 mét khối (m3) đến dưới 20 mét khối (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài của loài thuộc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp; từ 20 mét khối (m3) đến dưới 40 mét khối (m3) gỗ loài thực vật thông thường;
+ Tàng trữ, vận chuyển, chế biến, mua bán trái phép các loài thực vật hoang dã khác trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 600.000.000 đồng;
+ Vật phạm pháp có khối lượng hoặc giá trị dưới mức thấp nhất quy định tại một trong các điểm a, b, c, d, đ hoặc e của khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
- Tăng mức phạt tiền là hình phạt chính tại khoản 1 từ “5 triệu đồng đến 50 triệu đồng” lên “từ 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng” và tăng mức tối thiểu của hình phạt tù từ 3 tháng lên 6 tháng.
- Cụ thể hóa tình tiết “Phạm tội trong trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 2 Điều 175 BLHS 1999 bằng các mức định lượng cụ thể tại khoản 2 Điều 232 BLHS 2015 như sau:
+ Khai thác trái phép rừng sản xuất với khối lượng từ 40 mét khối (m3) đến dưới 80 mét khối (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 25 mét khối (m3) đến dưới 50 mét khối (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
+ Khai thác trái phép rừng phòng hộ với khối lượng từ 30 mét khối (m3) đến dưới 60 mét khối (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 20 mét khối (m3) đến dưới 40 mét khối (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
+ Khai thác trái phép rừng đặc dụng với khối lượng từ 30 mét khối (m3) đến dưới 60 mét khối (m3) gỗ loài thực vật thông thường; từ 10 mét khối (m3) đến dưới 20 mét khối (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
+ Khai thác trái phép thực vật rừng ngoài gỗ trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 400.000.000 đồng;
+ Tàng trữ, vận chuyển, chế biến, mua bán trái phép từ 03 mét khối (m3) đến dưới 06 mét khối (m3) đối với gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài của loài thực vật thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; từ 20 mét khối (m3) đến dưới 40 mét khối (m3) gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài của loài thực vật thuộc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp; từ 40 mét khối (m3) đến dưới 80 mét khối (m3) gỗ của loài thực vật thông thường;
+ Tàng trữ, vận chuyển, chế biến, mua bán trái pháp luật các loài thực vật hoang dã khác trị giá từ 600.000.000 đồng đến dưới 1.200.000.000 đồng;
+ Phạm tội qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại;
+ Phạm tội có tổ chức;
+ Tái phạm nguy hiểm.
Ngoài ra, khoản này cũng bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính với mức tiền phạt từ 300 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng và giảm mức tối đa của hình phạt tù từ 10 năm xuống còn 7 năm.
- Bổ sung mới khoản 3 Điều này như sau:
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị tù từ 05 năm đến 10 năm.
a) Khai thác trái phép tại rừng sản xuất 80 mét khối (m3) trở lên gỗ loài thực vật thông thường; 50 mét khối (m3) trở lên gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
b) Khai thác trái phép tại rừng phòng hộ 60 mét khối (m3) trở lên gỗ loài thực vật thông thường; 40 mét khối (m3) trở lên gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
c) Khai thác trái phép tại rừng đặc dụng 60 mét khối (m3) trở lên gỗ loài thực vật thông thường; 20 mét khối (m3) trở lên gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA;
d) Khai thác trái phép thực vật rừng khác trị giá 400.000.000 đồng trở lên;
đ) Tàng trữ, vận chuyển, chế biến, mua bán trái phép 06 mét khối (m3) trở lên gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IA hoặc gỗ có nguồn gốc từ nước ngoài của loài thực vật thuộc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp hoặc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; 40 mét khối (m3) trở lên gỗ loài thực vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIA hoặc gỗ có nguồn gốc nước ngoài của loài thực vật thuộc Phụ lục II Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã, nguy cấp; 80 mét khối (m3) trở lên gỗ loài thực vật thông thường;
e) Tàng trữ, vận chuyển, chế biến, mua bán trái pháp luật các loài thực vật hoang dã khác trị giá 1.200.000.000 đồng trở lên.
- Đối với hình phạt bổ sung là hình phạt tiền tại khoản 3 Điều 175 BLHS 1999, quy định mới tại khoản 4 Điều 232 BLHS 2015 cũng tăng mức tiền phạt từ “5 triệu đồng đến 20 triệu đồng” lên “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng”.
- Bổ sung quy định pháp nhân thương mại cũng có thể là chủ thể của tội phạm này với mức hình phạt chủ yếu là phạt tiền (là hình phạt chính) từ 300 triệu đồng đến 6 tỷ đồng. Phạt tiền (trong trường hợp là hình phạt bổ sung) từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng. Đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 6 tháng đến 3 năm; cấm kinh doanh, cấm hoạt động tỏng một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 1 năm đến 3 năm.
Điều 233. Tội vi phạm các quy định về quản lý rừng
Đây là điều luật được kế thừa từ Điều 176 của BLHS năm 1999 với những sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
- Bỏ quy định “gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 1 Điều 176 BLHS 1999 và quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 233 BLHS 2015 như sau:
+ Giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng trái pháp luật từ 20.000 mét vuông (m2) đến dưới 25.000 mét vuông (m2) đối với rừng sản xuất; từ 15.000 mét vuông (m2) đến dưới 20.000 mét vuông (m2) đối với rừng phòng hộ hoặc từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 15.000 mét vuông (m2) đối với rừng đặc dụng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 229 của Bộ luật này;
+ Cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng, đất trồng rừng trái pháp luật từ 10.000 mét vuông (m2) đến dưới 12.500 mét vuông (m2) đối với rừng sản xuất; từ 7.500 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2) đối với rừng phòng hộ hoặc từ 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 7.500 mét vuông (m2) đối với rừng đặc dụng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 229 của Bộ luật này;
+ Cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 232 của Bộ luật này;
+ Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm.
- Tình tiết “phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 176 BLHS 1999 được cụ thể hóa bằng quy định “phạm tội từ 2 lần trở lên” tại điểm b khoản 2 Điều 233 Bộ luật hình sự 2015. Đồng thời, cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” tại điểm c khoản 2 Điều 176 BLHS 1999 bằng các điểm c, d và đ khoản 2 Điều 233 như sau:
c) Giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng trái pháp luật từ 25.000 mét vuông (m2) đến dưới 40.000 mét vuông (m2) đối với rừng sản xuất; từ 20.000 mét vuông (m2) đến dưới 30.000 mét vuông (m2) đối với rừng phòng hộ hoặc từ 15.000 mét vuông (m2) đến dưới 25.000 mét vuông (m2) đối với rừng đặc dụng;
d) Cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng, đất trồng rừng trái pháp luật từ 12.500 mét vuông (m2) đến dưới 17.000 mét vuông (m2) đối với rừng sản xuất; từ 10.000 mét vuông (m2) đến 15.000 mét vuông (m2) đối với rừng phòng hộ hoặc từ 7.500 mét vuông (m2) đến 12.000 mét vuông (m2) đối với rừng đặc dụng;
đ) Cho phép khai thác, vận chuyển lâm sản trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 232 của Bộ luật này.
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 3 Điều 176 Bộ luật hình sự 1999 bằng các trường hợp cụ thể tại khoản 3 Điều 233 BLHS 2015 như sau:
a) Giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng trái pháp luật từ 40.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng sản xuất; từ 30.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng phòng hộ hoặc từ 25.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng đặc dụng;
b) Cho phép chuyển mục đích sử dụng rừng, đất trồng rừng trái pháp luật từ 17.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng sản xuất; từ 15.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng phòng hộ hoặc từ 12.000 mét vuông (m2) trở lên đối với rừng đặc dụng.
Điều 234. Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã
Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng:
- Về hành vi khách quan thuộc cấu thành cơ bản: Là người hoặc pháp nhân thương mại có các hành vi nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 242 và Điều 244 của Bộ luật này, bao gồm:
+ Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc thuộc Phụ lục II của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp có giá trị từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; động vật hoang dã thông thường khác có giá trị từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
+ Tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của loài động vật nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IIB hoặc thuộc Phụ lục II của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp có giá trị từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc của động vật hoang dã thông thường khác có giá trị từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;
+ Phạm tội trong trường hợp động vật, bộ phận cơ thể hoặc sản phẩm của động vật có giá trị dưới mức quy định tại điểm a và điểm b khoản này nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
* Các tình tiết định khung 2: Ngoài các tình tiết định khung về giá trị tang vật, số tiền thu lợi bất chính còn có các tình tiết: Có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; sử dụng công cụ, phương tiện đánh bắt bị cấm; săn bắt trong khu vực hoặc thời gian bị cấm; buôn bán qua biên giới; tái phạm nguy hiểm.
* Các tình tiết định khung 3: tang vật có giá trị từ 2 tỷ đồng trở lên; thu lợi bất chính từ 500 triệu đồng trở lên.
* Về chủ thể của tội phạm: Là cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi theo luật định hoặc pháp nhân thương mại.
- Về mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm có lỗi cố ý với động cơ vụ lợi.
- Về khách thể của tội phạm: Tội phạm xâm phạm đến hoạt động quản lý Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ động vật hoang dã. Gây tổn hại đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng xấu đến việc bảo tồn, duy trì sự tồn tại của các loài động vật hoang dã.
 
CHƯƠNG XIX. CÁC TỘI PHẠM VỀ MÔI TRƯỜNG
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Chương XVII Bộ luật hình sự  năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) gồm có 11 điều (từ Điều 182 - Điều 191a) quy định các tội phạm về môi trường. Qua thực tiễn thi hành các quy định tại Chương này, đã nảy sinh nhiều vướng mắc, bất cập, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm về môi trường, trong đó chủ yếu là do việc quy định cấu thành tội phạm còn chung chung và khó áp dụng như quy định cấu thành vật chất (đòi hỏi hành vi phạm tội phải gây ra hậu quả mới xử lý về hình sự), chưa quy định xử lý hình sự đối với pháp nhân...
Để khắc phục các vướng mắc, bất cập đó, BLHS năm 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung trong việc quy định cấu thành các tội phạm về môi trường, về chủ thể phạm tội; về trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với một số tội phạm. Cụ thể: Chương XIX BLHS năm 2015 gồm có 12 điều, được quy định từ Điều 235 đến Điều 246; so với BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 có những điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản sau đây:
1. Sửa đổi cấu thành các tội phạm về môi trường theo hướng cụ thể hóa các hành vi và quy định mức định lượng vi phạm cụ thể để xử lý hình sự, bảo đảm tính khả thi, thuận lợi cho thực tiễn áp dụng
Đa số các điều luật quy định tội phạm về môi trường được sửa đổi về cấu thành tội phạm theo hướng cụ thể hóa các hành vi và quy định mức định lượng vi phạm cụ thể để xử lý nhằm bảo đảm tính khả thi và thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng, thay cho quy định mang tính chung chung và đòi hỏi yếu tố hậu quả như quy định tại Điều 182 BLHS năm 1999 - Tội gây ô nhiễm môi trường hoặc quy định tại Điều 191a - Tội nhập khẩu phát tán các loài ngoại lai xâm hại.  
Ví dụ: Khoản 1 Điều 182 BLHS năm 1999 quy định “Người nào thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác”. Quy định mang tính định lượng chung chung như trên đã được loại bỏ và thay vào đó là các mức định lượng vi phạm cụ thể ở tất cả các điều luật.
Tương tự, quy định tại Điều 182a BLHS năm 1999 về tội vi phạm các quy định về quản lý chất thải nguy hại “người nào vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác” cũng được thay thế bằng các hành vi vi phạm cụ thể như: “người nào có thẩm quyền mà cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định của pháp luật chất thải nguy hại thuộc danh mục các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm dưới trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép”.     
Ở lần sửa đổi lần này, đối với các tội phạm quy định cấu thành hình thức (tức là việc xử lý về hình sự dựa vào hành vi vi phạm) thì việc quy định mức độ nghiêm trọng của hành vi để xử lý về hình sự được dựa trên cơ sở tham khảo quy định của các văn bản về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này, đồng thời căn cứ vào các yếu tố khác như quy mô của các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, tính hợp lý, khả thi của quy định.
Ví dụ: Đối với tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235 BLHS), hành vi xả nước thải có chứa các thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải có độ pH từ 0 đến dưới 02 hoặc từ 12,5 đến 14 trong trường hợp lượng nước thải từ 5.000 mét khối (m3)/ngày đến dưới 10.000 mét khối (m3)/ngày thì sẽ bị xử lý hình sự, trong khi theo quy định của Nghị định 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực môi trường thì mức xử phạt cao nhất là xử phạt từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng trong trường hợp lưu lượng trong trường hợp lượng nước thải từ 10.000 m3/ngày trở lên. Việc quy định này đặt ra một yêu cầu là sau khi BLHS được ban hành, cần nghiên cứu sửa đổi các văn bản quy định các mức xử lý vi phạm hành chính cho phù hợp.
Ngoài ra, để xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, các trường hợp vi phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì bị xử lý với mức phạt tiền rất cao (nhiều trường hợp phạt tiền đến 3.000.000.000 đồng hoặc phạt tù đến 07 năm đối với cá nhân).
2. Bổ sung 01 tội danh mới “Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông” (Điều 238)
Tội danh này được bổ sung nhằm xử lý các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai; bảo vệ bờ, bãi sông; các hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng công trình thủy lợi, đê điều, phòng chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; không tuân thủ quy trình, quy chuẩn vận hành hồ chứa, liên hồ chứa, công trình phân lũ, làm chậm lũ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành gây hậu quả nghiêm trọng.
Xuất phát từ thực tiễn, có một số cơ sở thủy điện xả lũ không đảm bảo thời gian hoặc không thông báo cho các vùng dân cư ở khu vực hạ lưu, nên gây ra ngập lụt, thiệt hại về vật chất nặng nề cho một số khu vực dân cư đó; tình trạng khoan, đào thăm dò, khảo sát, khai thác đất, đá, cát sỏi, khoáng sản, nước dưới đất trái phép diễn ra khá phổ biến, gây hậu quả sạt lở nghiêm trọng cho các bờ, bãi sông…. Do đó, việc bổ sung tội phạm này nhằm đảm bảo đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm, chế tài quy định đối với các hành vi vi phạm nêu trên với hình phạt tiền ở khoản 1 cao nhất đến 300.000.000 đồng và lên đến 2.000.000.000 đồng ở khoản 2 hoặc đến 10 năm tù ở khoản 3. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 02 năm đến 05 năm. 
3. Mở rộng phạm vi áp dụng và nâng mức phạt tiền
Do tính chất nghiêm trọng của các tội phạm về môi trường và  mục đích chủ yếu của các hành vi phạm tội là nhằm đạt được các lợi ích kinh tế, nên phạm vi áp dụng của hình phạt tiền được mở rộng, mức phạt tiền được nâng lên đảm bảo tính răn đe, trừng trị đối với các hành vi vi phạm. Cụ thể:
Thứ nhất, mở rộng phạm vi áp dụng của hình phạt tiền
Hình phạt tiền được bổ sung tại khung cơ bản tại khoản 1 Điều 241 về tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người (đây là điều luật duy nhất không quy định hình phạt tiền tại khung cơ bản trong các điều luật quy định về tội phạm môi trường ở BLHS năm 1999).
Hình phạt tiền được quy định là hình phạt chính tại khung tăng nặng của một số tội (ví dụ: tội gây ô nhiễm môi trường; tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường; tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam; tội vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm).
Thứ hai, nâng mức phạt tiền tại các điều luật
Tất cả các điều luật trong Chương tội phạm về môi trường (12/12 điều)  có sự điều chỉnh theo hướng nâng cao mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm, mức phạt tiền được quy định ở mức rất cao, phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
4. Bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với một số tội phạm về môi trường
Bộ luật hình sự năm 2015 quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại tại Chương XI; có 09/12 tội phạm về môi trường quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại và áp dụng hình thức xử lý vi phạm, gồm: Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 235); tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại (Điều 236); tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 236); tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường (Điều 237); tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (Điều 238); tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam (Điều 239); tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản (Điều 242); tội hủy hoại rừng (Điều 243); tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (Điều 244); tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (Điều 245); tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 246).
 Hình phạt đối với pháp nhân phạm tội bao gồm phạt tiền (hình phạt chính và hình phạt bổ sung), đình chỉ hoạt động có thời hạn; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm huy động vốn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định.
Việc bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân xuất phát từ thực tế trong thời gian vừa qua, nhiều pháp nhân, doanh nghiệp đã thực hiện nhiều hành vi gây ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng, nhưng do BLHS chưa quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân, nên việc xử lý trách nhiệm của các pháp nhân này gặp nhiều khó khăn và không thể thực hiện được.
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Điều 235. Tội gây ô nhiễm môi trường
- Để đảm bảo tính khả thi của điều luật khi áp dụng vào thực tế, Điều 235 BLHS năm 2015 đã bỏ quy định dấu hiệu gây hậu quả của hành vi như “làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng” hoặc “gây hậu quả nghiêm trọng khác”, thay vào đó, quy định các hành vi vi phạm cụ thể với các loại chất gây ô nhiễm như chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ, nước thải có các thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật, bụi, khí thải vượt quá quy chuẩn kỹ thuật… Các hành vi vi phạm đều được lượng hóa, thay cho quy định chung chung trước đây “các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng ”. Cụ thể hóa hành vi “thải vào không khí, nguồn nước, đất các chất gây ô nhiễm môi trường, phát tán bức xạ, phóng xạ vượt quá quy chuẩn quốc gia về chất thải bằng 8 nhóm hành vi cụ thể.
Ví dụ: Khoản 1 Điều 235 quy định người nào thực hiện các hành vi sau đây thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Chôn, lấp, đổ, thải ra môi trường chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy trái quy định của pháp luật từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam;
b) Xả thải ra môi trường từ 5.000 mét khối (m3)/ngày đến dưới 10.000 mét khối (m3)/ngày nước thải có các thông số môi trường nguy hại vượt quy chuẩn kỹ thuật về chất thải từ 10 lần trở lên;
c) Xả nước thải ra môi trường có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt quy chuẩn kỹ thuật từ 02 lần đến dưới 04 lần;
d) Xả ra môi trường từ 5.000 mét khối (m3)/ngày đến dưới 10.000 mét khối (m3)/ngày nước thải có độ PH từ 0 đến dưới 2 hoặc từ 12,5 đến 14;

 Không quy định các yếu tố định tội, định khung về gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng như BLHS năm 1999, điều đó có nghĩa là việc gây ra hậu quả như thế nào không còn là yếu tố bắt buộc như qui định tại Điều 182 BLHS năm 1999.
- Về mức hình phạt có những sửa đổi: mức phạt tù tối thiểu được tăng từ 6 tháng lên 1 năm tù, nhưng mức phạt tù tối đa lại giảm từ 10 năm xuống còn 7 năm. Mức phạt tiền được tăng lên ở khoản 1 và khoản 2, trong đó các khỏan đều có thể  phạt tiền hoặc phạt tù (khoản 2 Điều 182 BLHS năm 1999 chỉ quy định phạt tù, không có phạt tiền).
- Để xử lý các vi phạm về môi trường, khoản 3 Điều 235 quy định các hành vi vi phạm dưới ngưỡng quy định tại khoản 1 nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
Điều luật cũng bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với tội này. Trên thực tế, gây ô nhiễm môi trường là hành vi mà trên thực tế pháp nhân có vi phạm phổ biến trong thời gian qua. Do vậy, chế tài đối với loại tội phạm này dành cho pháp nhân phạm tội khá nghiêm khắc, với mức phạt tiền thấp nhất là 500 triệu đồng và mức cao nhất là 10 tỷ đồng. Trường hợp gây ra các hậu quả không khắc phục được thì pháp nhân sẽ bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Ngoài hình phạt chính, pháp nhân còn có thể bị áp dụng hình phạt tiền bổ sung từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.
* Ghi chú: Phụ lục A Công ước Stockholm quy định 18 loại hóa chất phải loại trừ, trong đó 09 loại hóa chất trong lĩnh vực hoạt động sản xuất, 09 loại hóa chất trong lĩnh vực hoạt động sử dụng.
Điều 236. Tội vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại
Điều 236 đã cụ thể hóa hành vi vi phạm tại các khoản thay cho quy định chung chung của Điều 182a BLHS 1999 là “người nào vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại” và loại bỏ quy định “gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác” nhằm đảm bảo tính khả thi, dễ áp dụng của điều luật trên thực tiễn. Điều luật quy định rõ hành vi của người có thẩm quyền mà cho phép chôn, lấp, đổ, thải trái quy định của pháp luật chất thải nguy hại thuộc danh mục các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy từ 3.000 kilôgam đến dưới 5.000 kilôgam; chất thải có chứa chất phóng xạ, gây nhiễm xạ môi trường thuộc nguồn phóng xạ loại có mức độ nguy hiểm dưới trung bình theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn bức xạ - phân nhóm và phân loại nguồn phóng xạ vượt quy chuẩn cho phép…”. Các mức độ vi phạm được quy định trên cơ sở cân nhắc, đối chiếu với các quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính đối trong lĩnh vực môi trường , tính hợp lý, khả thi của điều luật.
Điều luật cũng bỏ quy định dẫn chiếu lên Điều 182 (cũ), Điều 235 (mới) về tội gây ô nhiễm môi trường, theo đó, các hành vi đổ, thải chất thải nguy hại sẽ được quy định trực tiếp tại Điều 235 về tội gây ô nhiễm môi trường. Điều 236 chỉ quy định hành vi của người có thẩm quyền trong việc quản lý chất thải nguy hại.
Về chế tài, mức hình phạt cao nhất ở khoản 1 là 2 năm tù (so với quy định cũ là 3 năm); tại khoản 2 là 05 năm (so với quy định cũ là 07 năm). Ngoài ra, hình phạt tiền cũng được bổ sung tại khoản 2 với mức phạt từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, đây là điểm mới so với quy định cũ chỉ quy định hình phạt tù có thời hạn, nhằm tăng khả năng lựa chọn hình phạt cho Tòa án khi quyết định hình phạt.
Điều 237. Tội vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường
So với Điều 182b BLHS năm 1999, Điều 237 BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định về “khắc phục sự cố về môi trường” để đảm bảo phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm; do vậy tên điều luật cũng được sửa đổi cho phù hợp.
Về cấu thành tội phạm, điều luật đã cụ thể hóa dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng khác” bằng các mức độ thiệt hại cụ thể về sức khỏe, tính mạng và tài sản của người khác. Ví dụ: điểm b khoản 1 quy định vi phạm quy định về ứng phó, khắc phục sự cố môi trường làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên hoặc gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng”.
Về chế tài, tại khoản 2 Điều 237 đã bổ sung hình phạt tiền bên cạnh hình phạt tù để tăng khả năng lựa chọn hình phạt cho Tòa án khi quyết định hình phạt.
Điều luật quy định bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong trường hợp phạm tội với mức phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn hoặc phạt tiền bổ sung từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.
Điều 238. Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông
Đây là điều luật mới được bổ sung vào BLHS. Khoản 1 Điều 238 quy định các hành vi phạm tội bị xử lý hình sự khi gây ra các thiệt hại về sức khỏe con người hoặc thiệt hại về tài sản, đó là các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai; bảo vệ bờ, bãi sông; các hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng công trình thủy lợi, đê điều, phòng chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; không tuân thủ quy trình, quy chuẩn vận hành hồ chứa, liên hồ chứa, công trình phân lũ, làm chậm lũ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, v.v.
Khoản 2, 3 quy định chế tài đối với các trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự, với mức phạt tiền cao nhất lên đến 2.000.000.000 đồng và phạt tù lên đến 10 năm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 02 năm đến 05 năm.
Pháp nhân thương mại phạm tội này thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm.
Điều 239. Tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam
 Điều 239 đã cụ thể hóa dấu hiệu “chất thải nguy hại hoặc chất thải khác có số lượng lớn” và bỏ quy định dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” được quy định tại Điều 185 BLHS năm 1999. Mức định lượng được quy định cụ thể, theo đó người nào đưa chất thải nguy hại hoặc chất hữu cơ khó phân hủy cần phải loại trừ theo quy định tại Phụ lục A Công ước Stockholm từ 1.000 kilôgam đến 3.000 kilôgam”chất thải khác từ 70.000 kilôgam đến dưới 170.000 kilôgam ” thì bị xử lý theo khoản 1 Điều 239.
Ngoài ra, thay vì quy định tại Điều 185 BLHS năm 1999 về thủ đoạn của người phạm tội “người nào lợi dụng việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế liệu hoặc hóa chất, chế phẩm sinh học hoặc bằng thủ đoạn khác đưa vào lãnh thổ Việt Nam chất thải nguy hại hoặc chất thải khác với số lượng lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng”, BLHS năm 2015 quy định gọn hơn theo hướng không đề cập đến thủ đoạn cụ thể mà chỉ quy định hành vi người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị …”.
 Về chế tài xử lý, hình phạt tiền cũng được bổ sung tại khung tăng nặng (khoản 2) với tư cách là hình phạt chính bên cạnh hình phạt tù.
Điều 239 BLHS năm 2015 quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với hành vi đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam, theo đó mức phạt tiền cao nhất đối với pháp nhân phạm tội đến 7.000.000.000 đồng hoặc bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Hình phạt bổ sung đối với pháp nhân phạm tội là phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm
Điều 240. Tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người
Ngoài việc bổ sung quy định hình phạt tiền tại khung cơ bản, Điều 240 BLHS năm 2015 còn bổ sung các hành vi sau cho phép đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh nguy hiểm cho người”, nhằm quy định rõ hơn việc mở rộng đối tượng phạm tội là những người có chức vụ, quyền hạn.
Điều luật đã tách khoản 2 thành 02 khoản (khoản 2 và khoản 3) để quy định chính sách xử lý phù hợp đối với từng trường hợp và cụ thể hóa các dấu hiệu “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 Điều 186 BLHS năm 1999. Thay vào đó, người nào phạm tội thuộc các trường hợp dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc gây chết người, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm; phạm tội dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ hoặc làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 12 năm.
Về chế tài, mức phạt tù có thời hạn cơ bản được giữ nguyên như quy định tại Điều 186 BLHS năm 1999. Hình phạt tiền bổ sung với mức tối thiểu được nâng lên 20.000.000 đồng, so với mức cũ là 10.000.000 đồng.  
Điều luật thay đổi “dịch bệnh nguy hiểm” được sửa thành “dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm” để phù hợp với quy định của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007.       
Điều 241. Tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật
 Điều 241 đã bổ sung hành vi cho phép đưa vào, mang ra khỏi vùng có dịch động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” để quy định rõ chủ thể của tội phạm là những người có chức vụ, quyền hạn.
Điều luật cũng thay đổi quy định “Khu vực hạn chế lưu thông”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 187 BLHS năm 1999 được thay bằng “vùng có dịch” để rõ hơn và phù hợp với quy định của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007.
Dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 1 Điều 187 BLHS năm 1999 đã được cụ thể hóa bằng các thiệt hại về tài sản gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”.
Quy định tại khoản 2 Điều 187 BLHS năm 1999 “phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” đã được chia thành hai khoản 2 và 3 để quy định chính sách xử lý phù hợp đối với từng trường hợp và cụ thể hóa các dấu hiệu “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”. Cụ thể, khoản 2 quy định người nào phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm; phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc dẫn đến phải công bố dịch thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
Về chế tài xử phạt, mức phạt tù có thời hạn cơ bản được giữ nguyên. Hình phạt tiền bổ sung được nâng lên ở mức tối thiểu và mức tối đa, từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, thay cho mức 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng trước đây.
Điều 242. Tội hủy hoại nguồn lợi thủy sản
Cấu thành cơ bản của tội phạm đã cụ thể hóa dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” bằng các thiệt hại vật chất cụ thể (gây thiệt hại nguồn lợi thủy sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc thủy sản thu được trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng ).
Các hành vi cũng được viết gọn cho chính xác hơn. Ví dụ: cụm từ “phương tiện, ngư cụ khác bị cấm”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 188 BLHS năm 1999 được sửa thành “phương tiện, ngư cụ bị cấm”;
Tại điểm đ khoản 1 đã bổ sung tình tiết Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 61%” làm căn cứ đánh giá mức hậu quả nghiêm trọng của hành vi phạm tội.
Để ngăn chặn tình trạng hủy hoại nguồn lợi thủy sản, các chế tài cũng có sự điều chỉnh cơ bản. Mức phạt tiền tại khoản 1 được nâng lên, với mức thấp nhất là 50.000.000 đồng so với quy định trước đây là 10.000.000 đồng và mức tối đa từ 100.000.000 đồng lên 300.000.000 đồng. Mức phạt tiền ở khung tăng nặng đối với các cá nhân phạm tội được quy định lên đến 1.000.000.000 đồng. Hình phạt tù tối đa cũng được nâng từ 05 năm lên đến 10 năm.
Điều luật cũng đã bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, theo đó nếu pháp nhân phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng; nếu phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng; nếu phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 điều này thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Ngoài ra, pháp nhân còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Điều 243. Tội hủy hoại rừng
Về cấu thành tội phạm, quy định chung chung tại Điều 189 BLHS năm 1999 “người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng gây hậu quả nghiêm trọng”, “hủy hoại diện tích rừng rất lớn”, “hủy hoại diện tích rừng đặc biệt lớn” đã được thay bằng những định lượng cụ thể với các loại rừng khác nhau như rừng khoanh nuôi tái sinh, rừng sản xuất, rừng đặc dụng.
Ví dụ, khoản 1 Điều 243 BLHS năm 2015 quy định trách nhiệm hình sự về tội hủy hoại rừng đối với các hành vi hủy hoại, gồm:
a) Cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh thuộc rừng chưa có trữ lượng có diện tích từ trên 30.000 mét vuông (m2) đến dưới 50.000 mét vuông (m2);
b) Rừng sản xuất có diện tích từ trên 5.000 mét vuông (m2) đến dưới 10.000 mét vuông (m2);
c) Rừng phòng hộ có diện tích từ trên 3.000 mét vuông (m2) đến dưới 7.000 mét vuông (m2);
d) Rừng đặc dụng có diện tích từ trên 1.000 mét vuông (m2) đến dưới 3.000 mét vuông (m2)”;
Điều 243 cũng đã cụ thể hóa dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng bằng các định lượng cụ thể như gây thiệt hại về lâm sản trị giá từ trên 30.000.000 đồng đến dưới 60.000.000 đồng đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên; từ trên 50.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng đối với rừng sản xuất là rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh trong trường hợp rừng bị thiệt hại không tính được bằng diện tích rừng bị đốt, bị phá hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng không tập trung mà phân tán, rải rác trong cùng một tiểu khu hoặc nhiều tiểu khu.
Điều 243 BLHS năm 2015 vẫn giữ lại quy định để xử lý nghiêm các hành vi tái phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội này chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, theo đó các hành vi hủy hoại diện tích rừng hoặc giá trị lâm sản, thực vật dưới mức quy định tại một trong các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều này, nếu chưa hết thời hiệu để được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính hoặc chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì vẫn bị xử lý theo Điều 243 về tội hủy hoại rừng.
Điều 243 BLHS năm 2015 đã bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với tội này, theo đó các chế tài đối với pháp nhân phạm tội là phạt tiền với mức thấp nhất là 500.000.000 đồng và mức cao nhất là 7.000.000.000 đồng; bị đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm; đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Pháp nhân còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
Điều 244. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ
Điều luật này được sửa đổi, bổ sung trên cơ sở quy định tại Điều 190 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Trong thực tiễn, việc xử lý các hành vi quy định tại Điều 190 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về các hành vivi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ” gặp khó khăn do điều luật chỉ quy định xử lý hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo danh mục của Nhà nước ta mà không đề cập đến danh mục động vật nguy cấp, quý hiếm thuộc Nhóm IB hoặc thuộc Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, nên lâu nay những hành vi buôn bán, vận chuyển mẫu vật các loài ngy cấp quý hiếm từ nước ngoài về Việt Nam thuộc Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (chủ yếu là ngà voi, sừng tê giác) không sử lý được theo Điều 190 BLHS năm 1999 mà tùy theo từng trường hợp được xử lý theo các điều (153- Tội buôn lậu, Điều 154, tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới, Điều 155- Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm) và cũng rất khó xử lý vì các điều luật này đều có quy định các tình tiết định khung “số lượng lớn, số lượng rất lớn, số lượng đặc biệt lớn” mà không có hướng dẫn mức cụ thể.
Để khắc phục bất cập nói trên, điều luật đã bổ sung đối tượng được bảo vệ là động vật nguy cấp, quý hiếm thuộc Nhóm IB hoặc thuộc Phụ lục I của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp” và quy định khối lượng mẫu vật hoặc số lượng cá thể  từng nhóm, loài theo 3 khoản cụ thể, kể cả ngà voi và sừng tê giác. Đồng thời bổ sung các tình tiết tại khung tăng nặng “buôn bán, vận chuyển qua biên giới”, “tái phạm nguy hiểm” nhằm điều chỉnh và xử lý nghiêm các trường hợp phạm tội. Ngoài ra, điều luật cũng quy định xử lý hình sự đối với một số trường hợp đã bị xử lý vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; bỏ các tình tiết quy định chung chung trước đây là “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”.
Hình phạt tù quy định tại khoản 3 được quy định từ 10 năm đến 15 năm (so với mức phạt tù tối đa là 7 năm quy định tại Điều 190 BLHS năm 1999). Như vậy, về chính sách xử lý đã có sự điều chỉnh thể hiện thái độ xử lý nghiêm khắc hơn của Nhà nước đối với loại tội này.
Điều luật bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội với hình phạt chính là phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Ngoài ra, pháp nhân còn có thể bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 600.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định từ 01 năm đến 03 năm hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.         
Điều 245. Tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên
Điều 245 BLHS năm 2015 đã cụ thể hóa dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” tại cấu thành cơ bản bằng các định lượng thiệt hại cụ thể về tài sản và diện tích cảnh quan, hệ sinh thái tự nhiên trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn thiên nhiên. Ngoài ra, điều luật cũng bổ sung tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong những hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” nhằm xử lý nghiêm các hành vi vi phạm ở mức độ ít nghiêm trọng nhưng diễn ra nhiều lần.
Điều 245 BLHS năm 2015 đã gộp các khoản 2 và 3 của Điều 191 BLHS năm 1999 thành một khoản, đồng thời cũng xây dựng cụ thể các quy định về định lượng, như:
i) Thay các dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng đối với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng đối với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt” bằng các định lượng cụ thể về thiệt hại tài sản và cảnh quan, hệ sinh thái;
ii) Điều chỉnh mức tối đa của hình phạt tù có thời hạn là từ 10 năm xuống 07 năm cho phù hợp và thu hẹp khoảng cách hình phạt tù tối thiểu, tối đa từ 03 năm đến 10 năm thành từ 03 năm đến 07 năm, khắc phục việc quy định khung hình phạt quá rộng, dẫn đến tùy tiện, khó quyết định mức hình phạt khi xét xử.
 Điều luật bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội, với chế tài phạt tiền từ 300 triệu đến 3 tỷ đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.  
Điều 246.  Tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại
Điều 246 BLHS năm 2015 đã thay quy định có cấu thành vật chất “người nào cố ý nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 1 Điều 191a BLHS năm 1999 bằng cấu thành hình thức, quy định các hành vi vi phạm cụ thể như “nhập khẩu trái phép loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại trong trường hợp vật phạm pháp trị giá từ 250.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng hoặc trong trường hợp vật phạm pháp trị giá dưới 250.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm”. Riêng đối với hành vi phát tán thì chỉ xử lý về hình sự khi có hậu quả xẩy ra với định lượng cụ thể về thiệt hại, “phát tán loài động vật, thực vật ngoại lai xâm hại hoặc loài động vật, thực vật ngoại lai có nguy cơ xâm hại, gây thiệt hại về tài sản từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”. Điều này cho thấy có sự phân biệt trong chính sách xử lý đối với các hành vi nhập khẩu và phát tán các loài ngoại lai xâm hại. Tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại Điều 191a trước đây cũng được thay bằng các định lượng về trị giá vật phạm pháp, thiệt hại về tài sản. Cụ thể:
a) … trong trường hợp vật phạm pháp trị giá từ 250.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng …;
b)… gây thiệt hại về tài sản từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
Về chế tài, hình phạt tiền được nâng lên, khoản 1 quy định mức phạt từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng thay cho mức quy định của Điều 191a BLHS năm 1999 là từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Mức phạt tù tối đa tại khoản 2 được giảm xuống từ 10 năm xuống 07 năm cho phù hợp, bảo đảm khung hình phạt không quá rộng.
Điều luật bổ sung trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội, với chế tài phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng, đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm. Hình phạt bổ sung gồm phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.
 
CHƯƠNG XX. CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY
Chương XX BLHS 2015 gồm 13 Điều từ Điều 247 đến Điều 259, so với BLHS năm 1999 tăng 04 điều (được tách ra từ Điều 194 và Điều 200 của BLHS năm 1999).
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
1. Quy định cụ thể hơn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và định lượng đối tượng tác động, hậu quả do tội phạm gây ra; đồng thời phân hóa trách nhiệm giữa các hành vi phạm tội đảm bảo tính công bằng trong việc xử lý tội phạm. Như vậy đã tạo thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật. Cụ thể:
- Quy định rõ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm tại 05 điều luật (Đ. 249, 250, 252, 257 và 258), bổ sung để làm rõ hành vi “chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” ở Điều 256,  bổ sung và sắp xếp lại cho phù hợp với quy trình quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần ở Điều 259.
- Quy định rõ các trường hợp cụ thể nếu người thực hiện hành vi phạm tội phạm phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự ngay tại khoản 1 của 07 điều luật (Đ. 247, 249, 250, 252, 253, 254, 259).
- Quy định rõ mức tối thiểu chất ma túy mà người thực hiện hành vi phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự vào 06 điều luật (Đ. 247, 249, 250, 252, 253, 254).  
Đây là điểm mới nhất trong Chương này, theo đó, việc xử lý giải quyết các vụ liên quan đến ma túy chỉ căn cứ theo quy định của BLHS, không phải theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch nữa.
2. Sửa đổi, bổ sung hoặc tách một số điều luật của BLHS 1999
- Có 7 điều luật được sửa đổi, bổ sung (Điều 247, 248, 253, 254, 255, 256, 259).
- Có 06 điều luật được tách ra từ Điều 194, Điều 200 BLHS 1999 là các điều 249, 250, 251, 252, 257, 258.
3. Thay đổi đơn vị đo trọng lượng thành khối lượng cho đúng với đơn vị đo lường theo quy định của pháp luật quốc tế và các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan của Nhà nước ta.
4. Về hình phạt chính và hình phạt bổ sung
- Bỏ hình phạt tử hình đối với 02 tội: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tội chiếm chất ma túy. Hình phạt cao nhất đối với các tội phạm này theo quy định của Điều 249 và Điều 252 BLHS năm 2015 là tù chung thân.
- Mức hình phạt tù được quy định thấp hơn ở một số tội phạm thuộc các điều luật (Điều 249, 252, 258, 259). 
- Hình phạt bổ sung bằng tiền:
+ Có 02 điều quy định nâng mức khởi điểm hình phạt bổ sung lên
* Từ 1 triệu đồng (ở Điều 192 BLHS 1999) lên 5 triệu đồng ở Điều 247
* Từ 5 triệu đồng (ở Điều 201 BLHS 1999) lên 10 triệu đồng ở Điều 259
+ Có 11 điều luật giữ nguyên:
* Từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng là các điều: 248, 249, 250, 251, 252, 254
* Từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng là Điều 253
* Từ 50 triệu đồng đến 500 triệu đồng là Điều 255
* Từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng là Điều 256
* Từ 5 triệu đồng đến 100 triệu đồng là các điều: 257, 258
 - Sắp xếp lại các tình tiết tại khoản quy định hình phạt bổ sung tại các điều 248, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 255  về nội dung “cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm” lên trước “tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
- Đưa quy định việc miễn trách nhiệm hình sự vào một trường hợp cụ thể (khoản 4 Điều 247).
5. Bổ sung thêm tên một số ma túy thường gặp trực tiếp vào điều luật:
- Bổ sung “cây cô ca, cây cần sa” vào Điều 247.
- Bổ sung 03 chất ma túy ở thể rắn là “Methamphetamine, Amphetamine, MDMA” vào các điểm, khoản của các điều: 248, 249, 250, 251, 252.
- Bổ sung thêm: “rễ, thân, cành cây cần sa” vào các điểm khoản của các điều: 249, 250, 251, 252.
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Điều 247. Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy
Qua tổng kết thực tiễn thi hành BLHS năm 1999 cho thấy việc quy định cấu thành cơ bản của tội này phải đồng thời thỏa mãn 03 điều kiện là (1) đã được giáo dục nhiều lần, (2) đã được tạo điều kiện để ổn định cuộc sống, (3) đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm không còn phù hợp với thực tế diễn biến của tội phạm này trong những năm gần đây. Vì việc trồng cây thuốc phiện hoặc các cây khác có chứa chất ma túy không chỉ diễn ra ở miền núi, vùng dân tộc ít người mà còn diễn ra ở vùng đồng bằng, thành phố. Mặt khác, do điều luật chưa quy định cụ thể về diện tích, số lượng trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy nên thời gian qua các cơ quan tiến hành tố tụng chưa xử lý được vụ án nào, dẫn đến tình trạng tái trồng cây thuốc phiện diễn biến phức tạp. Do vậy, khoản này được sửa theo hướng người phạm tội chỉ cần thỏa mãn một trong các điều kiện là:
(1) Đã được giáo dục 02 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống;
(2) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
(3) Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3.000 cây.
- Khoản 2 bổ sung tình tiết  “Với số lượng 3.000 cây trở lên” là tình tiết định khung tại khoản này.
- Khoản 3 tăng hình phạt tiền bổ sung lên từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
- Khoản 4 bổ sung quy định mới: “Người nào phạm tội thuộc khoản 1 Điều này, nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi thu hoạch, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự”.
Điều 248. Tội sản xuất trái phép chất ma túy
Bổ sung 03 chất ma túy mới là Methamphetamine, Amphtamine, MDMA. Đây là các chất ma túy tổng hợp có tính gây nghiện và tác hại rất lớn như hêrôin và côcain nhưng chưa được quy định cụ thể trong điều luật nên chỉ bị xử lý như các trường hợp vi phạm đối với các chất ma túy khác ở thể rắn (định lượng cao hơn hêrôin và côcain) nên không công bằng trong chính sách hình sự, điều này vô tình khuyến khích hành vi mua bán, vận chuyển, sử dụng ma túy tổng hợp thay thế ma túy truyền thống, có nguồn gốc tự nhiên.
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Đây là điều luật được tách từ Điều 194 “Tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy” của BLHS năm 1999. Việc tách như vậy để phân hóa chính sách hình sự phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của từng hành vi phạm tội và giảm hình phạt tử hình theo tinh thần của Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 05/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và cụ thể hóa bảo vệ quyền con người theo tinh thần Hiến pháp 2013.
Theo Điều 194 BLHS năm 1999, hình phạt cao nhất quy định đối với tội phạm này là tử hình, nay theo Điều 249 BLHS năm 2015, hình phạt cao nhất quy định đối với tội phạm này là tù chung thân (bỏ hình phạt tử hình đối với tội phạm này). 
Việc xử lý hành vi này đòi hỏi phải làm rõ mục đích của người thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể là: “…mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy…”. Còn nếu tàng trữ trái phép vì mục đích để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thì không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này mà tùy từng trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh tương ứng.
Đây là tội phạm có cấu thành vật chất, nên trừ trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì các hành vi còn lại người thực hiện hành vi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này phải là tàng trữ trái phép chất ma túy với số lượng nhất định, dưới số lượng đó chỉ có thể bị xử lý hành chính.
Bổ sung 03 chất ma tổng hợp mới Methamphetamine, Amphetamine, MDMA với chung chính sách hình sự như hêrôin, côcain.
Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy
Việc xử lý hành vi này cũng đòi hỏi phải làm rõ mục đích của người thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể là: “…không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy…”. Nếu vận chuyển trái phép chất ma túy mà nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thì tùy từng trường hợp sẽ bị truy truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng.
Đây cũng là tội phạm có cấu thành vật chất, nên trừ trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì các hành vi còn lại người thực hiện hành vi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này phải là hành vi vận chuyền trái phép chất ma túy với số lượng nhất định mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, dưới số lượng đó chỉ có thể bị xử lý hành chính.
Bổ sung 03 chất ma tổng hợp mới Methamphetamine, Amphetamine, MDMA với chính sách hình sự xử lý như hêrôin, côcain.
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
Đây là điều luật được tách từ Điều 194 “Tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy” của BLHS năm 1999.
Bổ sung 03 chất ma tổng hợp mới Methamphetamine, Amphetamine, MDMA với cung chính sách hình sự như hêrôin, côcain.
Điều 252. Tội chiếm đoạt chất ma túy
Đây là điều luật được tách từ Điều 194 “Tội Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy” của BLHS năm 1999.
Cũng tương tự như Điều 249 BLHS năm 2015 quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, Điều 252 bỏ hình phạt tử hình, hình phạt cao nhất quy định đối với tội phạm này là tù chung thân. 
Đây cũng là tội phạm có cấu thành vật chất, nên trừ trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì các hành vi còn lại người thực hiện hành vi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này phải với số lượng nhất định, dưới số lượng đó chỉ có thể bị xử lý hành chính.
Bổ sung 03 chất ma tổng hợp mới Methamphetamine, Amphetamine, MDMA với cung chính sách hình sự như hêrôin, côcain.
Điều 253. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy
Điểm mới của điều luật:
+ Người thực hiện hành vi vi phạm mà trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi nêu trong Điều luật hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
+ Tiền chất có khối lượng từ 50 gam đối với tiền chất ở thể rắn hoặc từ 75 mililít đối với tiền chất ở thể lỏng trở lên. Trường hợp người thực hiện một trong các hành vi được nêu trong điều luật này nhưng có số lượng tiền chất dưới 50 gam đối với tiền chất ở thể rắn hoặc dưới 75 mililít đối với tiền chất ở thể lỏng trở lên và trước đó người thực hiện hành vi vi phạm chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi nêu trong Điều luật hoặc chưa bị kết án về tội này thì không cấu thành tội phạm, người vi phạm chỉ có thể bị xử lý hành chính.
- Bổ sung tiền chất ở thể lỏng là đối tượng tác động của tội phạm ở các khung hình với định lượng cụ thể.
- Bổ sung khoản 5 quy định về quy đổi số lượng tiền chất ở các thể khác nhau để đưa về cùng đơn vị đo làm căn cứ tính tổng số lượng tiền chất làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 254. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy
Điểm mới của điều luật:
- Tên điều luật có sự thay đổi. Tại Điều 254 có bổ sung chữ “hoặc” giữa cụm từ “vận chuyển” và “mua bán”, bỏ chữ “các” giữa cụm từ “mua bán” và “phương tiện” của tên tại Điều 196 BLHS năm 1999.
- Các hành vi phạm chỉ bị coi là hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm này nếu thuộc một trong các trường hợp:
+ Người thực hiện hành vi vi phạm mà trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi nêu trong Điều luật hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
+ Có từ 06 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy trở lên.
 Trường hợp người thực hiện một trong các hành vi được nêu trong điều luật này nhưng có số lượng dưới 06 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy trở lên và trước đó người thực hiện hành vi vi phạm chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi nêu trong Điều luật hoặc chưa bị kết án về tội này thì không cấu thành tội phạm, người vi phạm chỉ có thể bị xử lý hành chính.
- Quy định cụ thể số lượng dụng cụ dùng làm căn cứ để định khung hình phạt tại các khoản của điều luật.
- Bổ sung 01 tình tiết định khung tại điểm g khoản 2 “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội”.
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Điểm mới của điều luật quy định rõ với những định lượng cụ thể:
- Quy định tỷ lệ “tổn thương cơ thể” thay cho “thương tật”,
- Quy định số người bị gây tổn hại sức khỏe và tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người.
Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
Điều luật chỉ chỉnh sửa quy định ở khoản 1, theo đó bổ sung quy định “nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này” (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy) để phân biệt giữa tội này với tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
Điều 257. Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy
Điều này được tách ra từ Điều 200 BLHS năm 1999 (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy). Điểm mới của điều luật:
- Quy định một tội danh độc lập nhằm phân hóa chính sách hình sự giữa các tội phạm này.
- Mô tả cụ thể hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, đó là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ.
- Khoản 4 chỉ quy định việc “làm chết 02 người trở lên”, bỏ trường hợp “hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác”.
Điều 258. Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy
Điều này được tách ra từ Điều 200 BLHS năm 1999 (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy). Điểm mới của điều luật:
- Cũng như Điều 257, điều này chỉ quy định một tội danh cụ thể để phân hóa chính sách hình sự giữa các tội phạm này.
- Mô tả cụ thể hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, đó là hành vi rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.
- Hình phạt được sửa đổi theo hướng giảm nhẹ hơn so với quy định của BLHS năm 1999: Khoản 1 là từ 01 năm đến 05 năm tù; khoản 2 từ 5 năm đến 10 năm; khoản 3 từ 10 năm đến 15 năm và khoản 4 từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Điều 259. Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần
Điểm mới của điều luật:
- Sửa lại tên điều luật theo hướng bổ sung cụ thể “tiền chất” và “thuốc hướng thần” vào để thay thế cụm từ “hoặc các chất ma túy khác”.
- Sửa đổi cấu thành cơ bản của tội phạm: bổ sung dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm là “đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã bị kết án về một trong các tội phạm về ma túy, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”.
- Bổ sung chủ thể của tội phạm này gồm cả người có trách nhiệm trong việc sản xuất, tồn trữ, xử lý, trao đổi, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam, kê đơn, bán thuốc, giám định, nghiên cứu chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần.
- Điều luật giảm mức phạt tù ở khoản 2, tăng mức phạt tiền tối thiểu ở khoản 1 so với quy định của Điều 201 BLHS năm 1999.
 
CHƯƠNG XXI. CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG, TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong BLHS 2015 cộng được quy định thành một Chương (Chương XXI), giữ nguyên tên Chương như BLHS 1999 bao gồm 70 điều từ Điều 260 đến Điều 329, được chia thành 4 mục, bổ sung 15 điều (BLHS 1999 quy định 55 điều, từ Điều 202 đến Điều 256). Đây là chương có một số lượng điều luật nhiều nhất trong các chương của BLHS 2015. Trong đó, có 6 điều tách hành vi từ một điều luật chung trước đây, 9 điều quy định tội phạm mới, số điều còn lại đều được sửa đổi, bổ sung. Những nội dung mới cơ bản của Chương gồm:
- Tách thành các Mục: Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, phân hóa trách nhiệm hình sự minh bạch hơn giữa các nhóm hành vi có tính chất và mức độ nguy hiểm khác nhau, đồng thời để có chính sách xử lý phù hợp hơn; các tội phạm quy định tại Chương XXI được tách thành 4 mục, gồm:  Mục 1: Các tội xâm phạm an toàn giao thông (gồm 25 điều luật, từ Điều 260 đến Điều 284); Mục 2: Tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông (gồm 10 điều luật, từ Điều 285 đến Điều 294); Mục 3: Các tội phạm khác xâm phạm an toàn công cộng (gồm 23 điều luật, từ Điều 295 đến Điều 317); Mục 4: Các tội phạm khác xâm phạm trật tự công cộng (gồm 12 điều luật, từ Điều 318 đến Điều 329).
- Tội phạm hóa một số hành vi xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, bao gồm: Sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng mục đích trái pháp luật (Điều 285); Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng (Điều 291); Cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông (Điều 292); Sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh (Điều 293); Cố ý gây nhiễu có hại (Điều 294); Cưỡng bức lao động (Điều 297); Bắt cóc con tin (Điều 301); Cướp biển (Điều 302); Vi phạm quy định về an toàn vận hành công trình điện (Điều 314).
- Tách 03 tội ghép trong chương này của BLHS 1999 thành 06 tội danh khác nhau, đồng thời cụ thể hóa hành vi phạm tội cũng như các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt (các Điều 263, 264, 270, 271, 275, 276). Đó là các tội: điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ; điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường sắt; điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường thuỷ (các Điều 205, 211, 215 BLHS 1999).
- Mở rộng phạm vi áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với trường hợp phạm tội nghiêm trọng thuộc các tội: Cản trở giao thông đường bộ (Điều 261); Tổ chức đua xe trái phép (Điều 265); Đua xe trái phép (Điều 266).
- Cụ thể hóa hành vi phạm tội và bổ sung các tình tiết định khung đối với hầu hết các tội xâm phạm an toàn giao thông, các tội xâm phạm an toàn công cộng, các tội xâm phạm trật tự công cộng và cụ thể hóa các tình tiết thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn tại mục các tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin và viễn thông.
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
MỤC 1. CÁC TỘI XÂM PHẠM AN TOÀN GIAO THÔNG
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Thay đổi tên điều luật từ “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” thành “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Việc thay đổi tên điều luật dẫn đến có sự thay đổi về chủ thể thực hiện tội phạm từ người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ sang người tham gia giao thông đường bộ (gồm người sử dụng phương tiện tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ).
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội tại khoản 1 và khoản 3 Điều luật và bổ sung vào khoản 2 Điều luật, cụ thể là các hành vi sau: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi “Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%” tại Khoản 4.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính tại Khoản 1 là “từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đến 100 triệu đồng” và thay đổi mức phạt tù tối thiểu tại Khoản 1 là từ “06 tháng” lên “01 năm” so với Điều 202 BLHS 1999.
- Quy định phạt tiền (từ 10 đến 50 triệu đồng) là hình phạt chính đối với hành vi “Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời” tại Khoản 5. Đồng thời thay đổi mức phạt tù tối đa tại Khoản 5 từ “02 năm” thành “01 năm” so với Điều 202 BLHS 1999.
Điều 261. Tội cản trở giao thông đường bộ
- Bổ sung các hành vi: San lấp trái phép các công trình giao thông đường bộ; đặt, để trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, đổ chất gây trơn, vật sắc nhọn hoặc các chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; sử dụng trái phép lề đường, hè phố, phần đường xe chạy; sử dụng trái phép hành lang an toàn đường bộ khi thi công trên đường bộ để cụ thể hóa và thay thế các hành vi: lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường; Lấn chiếm hành lang bảo vệ đường bộ; hành vi khác gây cản trở giao thông đường bộ. Đồng thời cụ thể hóa các thiết bị an toàn giao thông đường bộ (tại điểm c Khoản 1 Điều 203 BLHS 1999) gồm: đèn tín hiệu, cọc tiêu, gương cầu, dải phân cách tại Khoản 1.
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi “Đào, khoan, xẻ, san lấp trái phép các công trình giao thông đường bộ; đặt, để trái phép vật liệu, phế thải, rác thải, đổ chất gây trơn, vật sắc nhọn hoặc các chướng ngại vật khác gây cản trở giao thông đường bộ; tháo dỡ, di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất hoặc phá huỷ biển báo hiệu, đèn tín hiệu, cọc tiêu, gương cầu, dải phân cách hoặc các thiết bị an toàn giao thông đường bộ khác; mở đường giao cắt trái phép qua đường bộ, đường có dải phân cách; sử dụng trái phép lề đường, hè phố, phần đường xe chạy; sử dụng trái phép hành lang an toàn đường bộ hoặc vi phạm quy định về bảo đảm an toàn giao thông khi thi công trên đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%” tại Khoản 4.
- Tại khoản 5, bỏ hình phạt tù có thời hạn “3 tháng đến 1 năm” đối với hành vi “Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời”.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính tại Khoản 1 là từ “05 triệu đồng đến 30 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đến 100 triệu đồng” và thay đổi mức phạt tù tối thiểu tại Khoản 1 là từ “03 tháng” lên “06 tháng” so với Điều 203 BLHS 1999.
- Quy định hình phạt tiền “từ 100 triệu đồng đến 300 triệu đồng” là hình phạt chính tại Khoản 2, đó là tội phạm nghiêm trọng.
Điều 262. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông
- Thay đổi tên gọi của điều từ “Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn” thành “Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông”, thay đổi tên gọi dẫn đến thay đổi về phương tiện thực hiện của chủ thể tội phạm.
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Tách Khoản 2 Điều 204 BLHS 1999 thành 2 khoản riêng biệt (Khoản 2 và 3) để phân hóa trách nhiệm hình sự đối với các trường hợp phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính tại Khoản 1 là từ “10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 20 triệu đến 100 triệu đồng” và thay đổi mức phạt tù tối đa tại Khoản 1 là từ “05 năm” xuống “03 năm” so với Điều 204 BLHS 1999.
Điều 263. Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ
 Điều này được tách ra từ tội ghép “Điều 205. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” tại BLHS năm 1999.
- Quy định cụ thể các hành vi phạm tội tại Khoản 1 so với Điều 205 BLHS năm 1999, đó là “Người có thẩm quyền mà biết rõ người không có giấy phép lái xe, không đủ sức khỏe, độ tuổi để điều khiển phương tiện, người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà vẫn điều động người đó điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ”; quy định này làm minh bạch hơn đối với chủ thể của tội phạm này.
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người có thẩm quyền mà biết rõ người không có giấy phép lái xe, không đủ sức khỏe, độ tuổi để điều khiển phương tiện, người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà vẫn điều động người đó điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% tại Khoản 4.
- Thay đổi mức phạt tù tối thiểu là từ “2 năm” lên “3 năm” tại Khoản 2. Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính tại Khoản 1 là từ “03 triệu đồng đến 30 triệu đồng” thành “từ 20 triệu đến 100 triệu đồng” so với Điều 205 BLHS 1999. Quy định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung tại Khoản 5 “từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng”.
Điều 264. Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ
 Điều này được tách ra từ tội ghép “Điều 205. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện tham gia giao thông đường bộ” tại BLHS năm 1999.
- Quy định cụ thể các hành vi phạm tội tại Khoản 1 so với Điều 205 BLHS năm 1999, đó là “Người chủ sở hữu, quản lý phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà giao cho người không có giấy phép lái xe hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định này làm minh bạch hơn đối với chủ thể của tội phạm này.
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người chủ sở hữu, quản lý phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà giao cho người không có giấy phép lái xe hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% tại Khoản 4.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính tại Khoản 1 là từ “03 triệu đồng đến 30 triệu đồng” thành “từ 10 triệu đến 50 triệu đồng” và bỏ hình phạt tù có thời hạn tại Khoản 1 so với Điều 205 BLHS 1999;  Bổ sung phạt tiền là hình phạt chính và thay đổi khung hình phạt tù “từ 02 đến 07 năm” xuống “từ 06 tháng đến 03 năm” tại Khoản 2;  Thay đổi khung hình phạt tù từ “05 năm đến 12 năm” xuống “từ 03 năm đến 07 năm” tại Khoản 3;  Thay thế hình phạt bổ sung từ “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm” thành “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng” tại Khoản 5.
Điều 265. Tội tổ chức đua xe trái phép
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là “Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản” và quy định cụ thể đối với trường hợp đua xe có quy mô lớn, đó là quy định số lượng xe tham gia đua và số lần đua xe “Tổ chức đua xe trái phép cho từ 10 xe tham gia trở lên hoặc cùng một lúc tổ chức 02 cuộc đua xe trở lên”.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của người tổ chức trái phép việc đua xe ô tô, xe máy hoặc các loại xe khác có gắn động cơ gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% tại Khoản 5.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính tại Khoản 1 là từ “10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đến 100 triệu đồng”;  Bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính và thay đổi khung hình phạt tù từ “03 năm đến 10 năm” thành “03 năm đến 07 năm” tại khoản 2;  Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt bổ sung là từ “05 triệu đồng đến 30 triệu đồng” thành “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng”.
Điều 266. Tội đua xe trái phép
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là “Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản”.
- Thay đổi mức phạt tiền tối thiểu của hình phạt chính tại Khoản 1 là từ “5 triệu đồng” thành “10 triệu đồng” và thay đổi mức phạt tù tối đa, mức phạt cải tạo không giam giữ tối đa tại Khoản 1 là từ 03 năm xuống 02 năm;  Bổ sung quy định hình phạt tiền “50 triệu đồng đến 150 triệu đồng” là hình phạt chính và thay đổi khung hình phạt tù là từ “2 năm đến 7 năm” xuống “1 năm đến 5 năm” tại Khoản 2; Thay đổi khung hình phạt tù từ “10 năm đến 20 năm” xuống còn “từ 7 năm đến 15 năm” tại Khoản 4; Thay đổi khung phạt tiền là hình phạt bổ sung từ “5 triệu đồng đến 30 triệu đồng” lên “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” tại Khoản 5.
Điều 267. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là “Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản”.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường sắt gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% tại Khoản 5; Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính “từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng” thành “từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng” tại Khoản 1; Thay đổi khung hình phạt tù có thời hạn từ “6 tháng đến 3 năm” thành “từ 3 tháng đến 2 năm” tại Khoản 4.
Điều 268. Tội cản trở giao thông đường sắt
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là “Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản”.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của người đặt chướng ngại vật trên đường sắt; làm xê dịch ray, tà vẹt; tự ý khoan, đào, xẻ trái phép nền đường sắt, mở đường ngang, xây cống hoặc các công trình khác trái phép qua đường sắt; làm hỏng, thay đổi, chuyển dịch, che khuất tín hiệu, biển hiệu, mốc hiệu của công trình giao thông đường sắt; để súc vật đi qua đường sắt không theo đúng quy định hoặc để súc vật kéo xe qua đường sắt mà không có người điều khiển; đưa trái phép phương tiện tự tạo, phương tiện không được phép chạy trên đường sắt hoặc phá hoại phương tiện giao thông vận tải đường sắt hoặc lấn chiếm hành lang an toàn giao thông đường sắt, phạm vi bảo vệ công trình giao thông đường sắt cản trở giao thông đường sắt gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính là “từ 10 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng” và thay đổi mức phạt tù tối đa từ “5 năm” xuống còn “3 năm” tại Khoản 1 so với Điều 209 BLHS 1999;  Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính khi phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả thực tế gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, nếu không được ngăn chặn kịp thời là “từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng” thành “từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng” tại Khoản 5.
Điều 269. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện, thiết bị giao thông đường sắt không bảo đảm an toàn
- Cụ thể hóa hành vi phạm tội so với quy định của Điều 210 BLHS 1999, đó là: “Người nào chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương tiện giao thông đường sắt mà cho phép đưa vào sử dụng các phương tiện, thiết bị không có giấy chứng nhận đăng ký, đăng kiểm hoặc có nhưng biết là các phương tiện, thiết bị đó không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn gây thiệt hại”.
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là “Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản”.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương tiện giao thông đường sắt mà cho phép đưa vào sử dụng các phương tiện, thiết bị không có giấy chứng nhận đăng ký, đăng kiểm hoặc có nhưng biết là các phương tiện, thiết bị đó không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.
 - Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính là “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng” tại Khoản 1.
Điều 270. Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường sắt
 Điều này được tách ra từ tội ghép “Điều 211. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường sắt” BLHS năm 1999.
- Quy định cụ thể hơn các hành vi phạm tội so với quy định của Điều 211 BLHS năm 1999, đó là Người nào điều động hoặc giao cho người không có giấy phép lái tàu, hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường sắt tại Khoản 1.
 - Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là “Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản”.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người điều động hoặc giao cho người không có giấy phép lái tàu hoặc người không đủ sức khỏe; người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính là “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng” tại Khoản 1.
Điều 271. Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường sắt
 Điều này được tách ra từ tội ghép “Điều 211. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường sắt” BLHS năm 1999.
- Quy định cụ thể hơn các hành vi phạm tội so với quy định của Điều 211 BLHS năm 1999, đó là Người nào giao cho người không có giấy phép lái tàu hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường sắt tại Khoản 1.
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là “Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản”.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người giao cho người không có giấy phép lái tàu hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng” tại Khoản 1.
- Thay đổi khung hình phạt tù tại Khoản 1 là “từ 1 năm đến 5 năm” thành từ “6 tháng đến 3 năm”; tại Khoản 2 là “từ 3 năm đến 10 năm” thành “từ 2 năm đến 7 năm”; tại Khoản 3 là “từ 7 năm đến 15 năm” thành “từ 7 năm đến 12 năm”.
Điều 272. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của người điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường thuỷ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% tại Khoản 5.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính là “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng” tại Khoản 1; Thay đổi khung hình phạt tiền khi phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả thực tế gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, nếu không được ngăn chặn kịp thời từ “5 triệu đồng đến 30 triệu đồng” thành “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” và thay đổi khung hình phạt cải tạo không giam giữ trong trường hợp này là từ “2 năm” thành “3 năm” tại Khoản 4.
Điều 273. Tội cản trở giao thông đường thuỷ
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của người khoan, đào trái phép làm hư hại kết cấu của các công trình giao thông đường thuỷ; tạo ra chướng ngại vật gây cản trở giao thông đường thuỷ mà không đặt và duy trì báo hiệu; di chuyển làm giảm hiệu lực, tác dụng của báo hiệu; tháo dỡ báo hiệu hoặc phá hoại công trình giao thông đường thuỷ; lấn chiếm luồng hoặc hành lang bảo vệ luồng giao thông đường thuỷ hoặc hành vi khác cản trở giao thông đường thủy gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% tại Khoản 4.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng” tại Khoản 1.
- Thay đổi khung hình phạt tiền khi phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả thực tế gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, nếu không được ngăn chặn kịp thời là từ “5 triệu đồng đến 30 triệu đồng” thành “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” và thay đổi khung hình phạt cải tạo không giam giữ trong trường hợp này từ “1 năm” thành “2 năm”.
Điều 274. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thuỷ không bảo đảm an toàn
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương tiện giao thông đường thuỷ mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường thuỷ rõ ràng không bảo đảm an toàn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% tại Khoản 4.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính “từ 10 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng” tại Khoản 1.
Điều 275. Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường thuỷ
 Điều này được tách ra từ tội ghép tại “Điều 215. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường thuỷ” BLHS năm 1999.
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người điều động người không có giấy phép, giấy chứng nhận hoặc chứng chỉ chuyên môn theo quy định hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật giao thông đường thuỷ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% tại Khoản 4.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng” tại Khoản 1.
Điều 276. Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường thuỷ
 Điều này được tách ra từ tội ghép tại “Điều 215. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường thuỷ” BLHS năm 1999.
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người giao cho người không có giấy phép, giấy chứng nhận hoặc chứng chỉ chuyên môn theo quy định hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.tại Khoản 4.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng” và thay đổi khung hình phạt tù “từ 1 năm đến 5 năm” thành “từ 6 tháng đến 3 năm” tại Khoản 1.
Điều 277. Tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng” tại Khoản 1.
Điều 278. Tội cản trở giao thông đường không
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản” và giải thích cụ thể hơn hành vi quy định tại điểm d Điều 217 BLHS năm 1999 là “Cung cấp thông tin sai lạc gây nguy hiểm cho chuyến bay” bằng “Cố ý cung cấp thông tin sai đến mức gây uy hiếp an toàn của tàu bay đang bay hoặc trên mặt đất, an toàn của hành khách, tổ bay, nhân viên mặt đất hoặc người tại cảng hàng không, sân bay và công trình, trang bị, thiết bị hàng không dân dụng”.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người đặt các chướng ngại vật cản trở giao thông đường không; di chuyển trái phép, làm sai lệch, che khuất, hoặc phá huỷ các biển hiệu, tín hiệu an toàn giao thông đường không; sử dụng sai hoặc làm nhiễu các tần số thông tin liên lạc; cố ý cung cấp thông tin sai đến mức gây uy hiếp an toàn của tàu bay đang bay hoặc trên mặt đất; an toàn của hành khách, tổ bay, nhân viên mặt đất hoặc người tại cảng hàng không, sân bay và công trình, trang bị, thiết bị hàng không dân dụng; làm hư hỏng trang thiết bị của sân bay hoặc trang thiết bị phụ trợ khác phục vụ cho an toàn bay hoặc hành vi khác cản trở giao thông đường không cản trở giao thông đường không gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng” tại Khoản 1.
- Thay đổi khung hình phạt tiền khi phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả thực tế gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác, nếu không được ngăn chặn kịp thời từ “5 triệu đồng đến 20 triệu đồng” thành “từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng” tại Khoản 5.
Điều 279. Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường không không bảo đảm an toàn
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người có trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của các phương tiện giao thông đường không mà cho đưa vào sử dụng các phương tiện rõ ràng không bảo đảm an toàn kỹ thuật, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% tại Khoản 5.
Điều 280. Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường không
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của người điều động hoặc giao cho người không có giấy phép người lái tàu bay hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường không gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% tại Khoản 5.
- Thay đổi mức phạt tù tối thiểu tại Khoản 2 là từ “3 năm” thành “5 năm”; tại Khoản 3 là từ “8 năm” thành “10 năm”; tại Khoản 4 là từ “12 năm” thành “15 năm”.
Điều 281. Tội vi phạm quy định về duy tu, sửa chữa, quản lý các công trình giao thông
- Quy định cụ thể các hành vi phạm tội so với Điều 220 BLHS năm 1999, cụ thể là các hành vi: Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về duy tu, bảo dưỡng, quản lý để công trình giao thông không bảo đảm trạng thái an toàn kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình liên quan đến bảo đảm an toàn giao thông; Không khắc phục kịp thời đối với các công trình giao thông bị hư hỏng, đe dọa an toàn giao thông; Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các biện pháp hướng dẫn, điều khiển giao thông, đặt biển hiệu, cọc tiêu, rào chắn ngăn ngừa tai nạn khi công trình giao thông đã bị hư hại chưa kịp hoặc đang tiến hành duy tu, sửa chữa; Không thường xuyên kiểm tra và thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn giao thông trên đoạn đường đèo dốc nguy hiểm, đoạn đường có đá lở, đất sụt, nước ngập hoặc trên các đoạn đường có nguy cơ không bảo đảm an toàn giao thông; Không có biện pháp xử lý kịp thời và biện pháp ngăn ngừa tai nạn khi phát hiện hoặc được tin báo công trình giao thông thuộc thẩm quyền quản lý của mình bị hư hỏng; Không đặt hoặc đặt không đủ các tín hiệu phòng vệ theo quy định thi công, sửa chữa công trình giao thông; Không thu dọn, thanh thải các biển phòng vệ, rào chắn, phương tiện, các vật liệu khi thi công xong và Vi phạm khác về duy tu, bảo dưỡng, quản lý công trình giao thông.
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Thay đổi mức phạt tiền tối thiểu (phạt tiền là hình phạt chính) đối với hành vi vi phạm từ “5 triệu đồng” thành “30 triệu đồng” và bỏ hình phạt tù có thời hạn tại Khoản 1.
- Thay đổi mức phạt tiền tối thiểu (phạt tiền là hình phạt bổ sung) từ “5 triệu đồng” thành “10 triệu đồng”.
Điều 282. Tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ
Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
Điều 283. Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Quy định thành một khoản riêng về hình phạt đối với hành vi của Người điều khiển tàu bay vào hoặc ra khỏi Việt Nam mà vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 110 và Điều 111 của Bộ luật này gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% tại Khoản 5.
- Thay đổi hình phạt tù tối thiểu từ “6 tháng” thành “3 tháng” tại Khoản 1.
- Bổ sung cụ thể các trường hợp phạm tội nghiêm trọng, theo đó, hành vi phạm tội nghiêm trọng có thể bị xử lý ở Khoản 2 và Khoản 3.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính đối với hành vi phạm tội rất nghiêm trọng là “từ 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng” thành “từ 1,5 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng” tại Khoản 4.
Điều 284. Tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Quy định cụ thể các hành vi phạm tội so với Điều 223 BLHS năm 1999, cụ thể là các hành vi: Chạy quá tốc độ cho phép trong vùng nước cảng biển; Chạy không đúng vùng được phép hoạt động theo quy định; Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các thủ tục vào cảng, rời cảng, chế độ hoa tiêu, thủ tục neo, đậu, cập cầu, cập mạn, trật tự - vệ sinh, an toàn cháy nổ, phòng ngừa ô nhiễm môi trường do phương tiện hàng hải gây ra; Không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy định về đi, tránh nhau, vượt nhau, nhường đường trong hoạt động giao thông hàng hải hoặc phương tiện giao thông hàng hải không có, không bảo đảm về còi, chuông, kẻng theo âm lượng quy định; Không bảo đảm về đèn hành trình, đèn hiệu theo tiêu chuẩn quy định; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng về phát tín hiệu về âm hiệu, tín hiệu ánh sáng.
- Cụ thể hóa dấu hiệu hậu quả của hành vi phạm tội, cụ thể là: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể tại từng khoản.
- Bỏ hình phạt tù đối với hành vi phạm tội tại khoản 1 và bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ tại khoản 1.
MỤC 2. TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN, MẠNG VIỄN THÔNG
Điều 285. Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật
Đây là tội danh mới. Các yếu tố cấu thành của tội phạm này là:
a) Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là: sản xuất, mua bán, trao đổi, tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm có tính năng tấn công mạng máy tính, viễn thông, phương tiện điện tử để sử dụng vào mục đích trái pháp luật.
b) Khách thể của tội phạm: Tội phạm này xâm phạm hoạt động quản lý nhà nước về an toàn, an ninh trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
c) Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý.
d) Chủ thể của tội phạm: Là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
- Về hình phạt : Tội phạm này có ba khung hình phạt chính:
Khung 1: Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan của tội này.
Khung 2: Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm, được áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Có tổ chức;
+ Phạm tội 2 lần trở lên;
+ Có tính chất chuyên nghiệp;
+ Thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng;
+ Tái phạm nguy hiểm.
Khung 3: Phạt tù từ 3 năm đến 7 năm khi thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên;
+ Gây thiệt hại về tài sản 1 tỷ đồng trở lên.
Ngoài ra các hình phạt chính nêu trên, người thực hiện hành vi phạm tội còn có thể phải chấp hành các hình phạt bổ sung sau: bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 286. Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử
- Tên điều luật có sự thay đổi so với Điều 224 BLHS năm 1999, cụ thể là điều luật mới đã bỏ cụm từ “vi rút”, “mạng internet” và thay thế cụm từ “thiết bị số” bằng cụm từ “phương tiện điện tử”.
- Quy định cụ thể về định lượng của dấu hiệu “thu lợi bất chính lớn”, “hậu quả của hành vi phạm tội”, “số lượng phương tiện bị nhiễm hoặc số lượng người sử dụng hệ thống thông tin bị nhiễm”.
- Quy định hình phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 500 triệu đồng là hình phạt chính đối với hành vi phạm tội nghiêm trọng tại Khoản 2 ; Thay đổi mức phạt tù tối thiểu từ 5 năm lên 7 năm tại Khoản 3 ; Thay đổi mức phạt tiền tối thiểu từ 20 triệu đồng lên 50 triệu đồng tại Khoản 1; Thay đổi mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng thành từ 30 triệu đồng đến 200 triệu đồng tại Khoản 4.
Điều 287. Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử
- Tên điều luật có sự thay đổi so với Điều 225 BLHS năm 1999, cụ thể là điều luật mới đã bỏ cụm từ “ mạng Internet” và thay thế cụm từ “thiết bị số” bằng cụm từ “phương tiện điện tử”.
- Quy định cụ thể về định lượng của dấu hiệu “Thu lợi bất chính lớn, rất lớn, đặc biệt lớn”, “thiệt hại về tài sản của tội phạm”,Thời gian, số lần làm tê liệt, gián đoạn, ngưng trệ hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử”, “Thời gian làm đình trệ hoạt động của cơ quan, tổ chức”.
- Quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với hành vi phạm tội nghiêm trọng tại Khoản 2 ; Thay đổi khung hình phạt tù “từ 1 năm đến 5 năm” thành “từ 6 tháng đến 3 năm” và thay đổi mức phạt tiền tối thiểu từ “20 triệu đồng” lên “30 triệu đồng” tại Khoản 1 ; Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt bổ sung từ “5 triệu đồng đến 50 triệu đồng” lên “30 triệu đồng đến 200 triệu đồng” tại Khoản 4.
Điều 288. Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông
- Tên điều luật có sự thay đổi so với Điều 226 BLHS năm 1999, cụ thể là điều luật mới đã bỏ cụm từ “mạng Internet”. 
- Quy định cụ thể về định lượng của dấu hiệu “Thu lợi bất chính lớn, rất lớn, “thiệt hại về tài sản của tội phạm”.
- Quy định hình phạt tiền là hình phạt chính đối với hành vi phạm tội nghiêm trọng và bổ sung các hành vi sau tại Khoản 2 Điều luật này: Xâm phạm bí mật cá nhân dẫn đến người bị xâm phạm tự sát; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc quan hệ đối ngoại của Việt Nam; Dẫn đến biểu tình.
- Thay đổi khung hình phạt tiền là hình phạt chính “từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng” thành “từ 30 triệu đồng đến 200 triệu đồng”.
Điều 289. Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác
- Tên Điều luật có nhiều sự thay đổi so với điều 226a BLHS năm 1999, cụ thể là thay thế cụm từ “truy cập bất hợp pháp” bằng cụm từ “xâm nhập trái phép”, bỏ cụm từ “mạng Internet” và thay thế cụm từ “thiết bị số” bằng cụm từ “phương tiện điện tử”.
- Quy định cụ thể về định lượng của dấu hiệu “Thu lợi bất chính”, “thiệt hại về tài sản của tội phạm”.
- Quy định bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính đối với hành vi phạm tội nghiêm trọng; bổ sung đối tượng của hành vi phạm tội là trạm trung chuyển internet quốc gia, hệ thống cơ sở dữ liệu tên miền và hệ thống máy chủ tên miền quốc gi tại khoản 2.
- Thay đổi mức phạt tù tối thiểu từ 5 năm lên 7 năm tại Khoản 3.
Điều 290. Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
- Tên điều luật có sự thay đổi so với Điều 226b BLHS năm 1999, cụ thể là điều luật mới đã bỏ cụm từ “ mạng Internet” và thay thế cụm từ “thiết bị số” bằng cụm từ “phương tiện điện tử”.
- Bổ sung các hành vi phạm tội sau: tàng trữ, mua bán, sử dụng, lưu hành thẻ ngân hàng giả nhằm chiếm đoạt tài sản của chủ tài khoản, chủ thẻ hoặc thanh toán hàng hóa, dịch vụ; Thiết lập, cung cấp trái phép dịch vụ viễn thông, internet nhằm chiếm đoạt tài sản.
- Quy định cụ thể về định lượng của dấu hiệu “số lần phạm tội”, “thiệt hại về tài sản của tội phạm”, “số lượng thẻ giả” tại các khoản cụ thể.
- Quy định thay thế hình phạt tiền là hình phạt chính bằng hình phạt cải tạo không giam giữ và thay đổi khung hình phạt tù “từ 1 năm đến 5 năm” thành “6 tháng đến 3 năm” tại Khoản 1 ; Thay đổi mức phạt tù tối thiểu từ “3 năm” thành “2 năm” tại Khoản 2 ;
- Bỏ hình phạt tù chung thân tại Khoản 4.
- Quy định hình phạt bổ sung: thay đổi mức phạt tiền tối thiểu của hình phạt bổ sung từ “5 triệu đồng” thành “20 triệu đồng” tại Khoản 5.
Điều 291. Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng (mới)
Đây là tội danh mới. Các yếu tố cấu thành tội phạm là:
a) Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm gồm có: (1) thu thập trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác; (2) tàng trữ trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác; (3) trao đổi trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác; (3) mua bán trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác; (4) công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác.
b) Khách thể của tội phạm: Tội phạm này xâm phạm đến việc bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến tài khoản ngân hàng được quy định tại Luật các tổ chức tín dụng.
c) Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
d) Chủ thể của tội phạm: Là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
Về hình phạt: Hình phạt chính của tội này gồm ba khung:
Khung 1: Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan của tội này gây hậu quả từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản hoặc thu lợi bất chính từ 20 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng.
Khung 2: Phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm, được áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 50 tài khoản đến dưới 200 tài khoản;
+ Có tổ chức;
+ Có tính chất chuyên nghiệp;
+ Thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;
+ Tái phạm nguy hiểm;
Khung 3: Phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 2 năm đến 7 năm, được áp dụng khi thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng 200 tài khoản trở lên;
+ Thu lợi bất chính 200 triệu đồng trở lên.
- Ngoài ra, người thực hiện hành vi phạm tội còn có thể phải chấp hành các hình phạt bổ sung sau: phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 292. Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông
Đây là tội danh mới. Các yếu tố cấu thành tội phạm là:
a) Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi phạm tội là: Hành vi cung cấp một trong các dịch vụ sau đây trên mạng máy tính, mạng viễn thông không có giấy phép hoặc không đúng nội dung được cấp phép: (1) kinh doanh vàng trên tài khoản; (2) sàn giao dịch thương mại điện tử; (3) kinh doanh đa cấp; (4) trung gian thanh toán; (5) trò chơi điện tử trên mạng; (6) các loại dịch vụ khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông theo quy định của pháp luật.
Người thực hiện hành vi phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thu lợi bất chính từ 50 triệu đồng trở lên hoặc có doanh thu từ 500 triệu đồng trở lên.
b) Khách thể của tội phạm: Hành vi phạm tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, sở hữu tài sản của người khác.
c) Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; động cơ, mục đích của người phạm tội là vụ lợi.
d) Chủ thể của tội phạm: Là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính của tội phạm này gồm ba khung:
Khung 1: Phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 500 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan của tội này.
Khung 2: Phạt tiền từ 500 triệu đồng đến 1,5 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm, được áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Có tổ chức;
+ Phạm tội 2 lần trở lên;
+ Có tính chất chuyên nghiệp;
+ Tái phạm nguy hiểm;
+ Thu lợi bất chính từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng hoặc có doanh thu từ 2 tỷ đồng đến dưới 5 tỷ đồng.
Khung 3: Phạt tiền từ 1,5 tỷ đồng đến 5 tỷ đồng hoặc bị phạt tù từ 2 năm đến 5 năm, được áp dụng trong trường hợp: Thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên hoặc có doanh thu 5 tỷ đồng trở lên.
- Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình phạt bổ sung: phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Điều 293. Tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh
Đây là tội danh mới. Các yếu tố cấu thành tội phạm là:
a) Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi phạm tội là: Sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh vào mục đích khác;
Hành vi vi phạm chỉ cấu thành tội phạm nếu gây thiệt hại từ 200 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
b) Khách thể của tội phạm: Hành vi phạm tội này xâm phạm đến trật tự xã hội trong việc sử dụng tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh.
c) Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
d) Chủ thể của tội phạm: Là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
- Về hình phạt:  Hình phạt của tội phạm này gồm hai khung:
Khung 1: Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan của tội này.
Khung 2: Phạt tù từ 1 năm đến 5 năm, được áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Có tổ chức: được hiểu là có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện đồng phạm;
+ Gây thiệt hại 500 triệu đồng trở lên;
+ Tái phạm nguy hiểm.
Điều 294 Tội cố ý gây nhiễu có hại
Đây là tội danh mới. Các yếu tố cấu thành tội phạm là:
a) Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm là hành vi gây nhiễu có hại, cản trở hoạt động bình thường của hệ thống thông tin vô tuyến điện.
Hành vi vi phạm nêu trên chỉ cấu thành tội phạm khi gây thiệt hại từ 200 triệu đồng trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
b) Khách thể của tội phạm: Hành vi phạm tội xâm phạm hoạt động bình thường của hệ thống thông tin vô tuyến điện.
c) Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
d) Chủ thể của tội phạm này là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
Về hình phạt:
- Hình phạt chính của tội phạm này gồm hai khung:
Khung 1: Phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan của tội này.
 Khung 2: Phạt tù từ 1 năm đến 5 năm, được áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Có tổ chức;
+ Gây thiệt hại 500 triệu đồng trở lên;
+ Tái phạm nguy hiểm.
MỤC 3. CÁC TỘI PHẠM KHÁC XÂM PHẠM AN TOÀN CÔNG CỘNG
Điều 295. Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người
- Điều luật này sửa đổi Điều 227 BLHS 1999, cơ bản theo hướng cụ thể hóa dấu hiệu là hậu quả của hành vi phạm tội như: gây thiệt hại cho tính mạng là làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên; Gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%; 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
- Bổ sung hình phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu, nâng mức khởi điểm hình phạt tù từ 06 tháng đến 5 năm thành 1 năm đến 5 năm, vào khoản 1 của Điều luật. Cụ thể hóa mức thiệt hại để định khung hình phạt, chia thêm mức hình phạt tại khoản 2 và 3 tương ứng với thiệt hại và tổn thương về sức khỏe.
- Bổ sung khoản 4 để điều chỉnh những hành vi gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe mà hậu quả không nằm trong khoảng thiệt hại được quy định tại khoản 1, 2 và 3 của Điều luật là gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.
- Nâng mức khởi điểm của hình phạt bổ sung tại khoản 6 của Điều luật từ 5 triệu đến 50 triệu thành mức 10 triệu đến 50 triệu.
Điều 296. Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi
- Sửa đổi cụm từ “lao động trẻ em” thành “người lao động dưới 16 tuổi”.
- Về cấu thành tội phạm: cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” theo BLHS 1999 thành các mức thiệt hại về sức khỏe.
- Về hình phạt: nâng mức phạt tiền tại khoản 1 lên thành 30 triệu đến 200 triệu, cải tạo không giam giữ đến 3 năm và tù từ 6 tháng đến 3 năm. Hình phạt bổ sung quy định tại khoản 4 cũng được nâng lên từ 10 triệu đến 50 triệu.
Việc sửa đổi thể hiện sự quan tâm của Nhà nước với đối tượng đặc biệt là trẻ em, cụ thể hóa độ tuổi chịu thiệt hại là “người lao động dưới 16 tuổi”, trẻ em cần được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục đến khi trưởng thành.
Điều 297. Tội cưỡng bức lao động
Trong thực tế hiện nay, việc cưỡng bức lao động mới dừng lại ở phạm vi xử lý hành chính. Bộ luật lao động 2012 nghiêm cấm hành vi cưỡng bức lao động nhưng chưa được xử lý đúng mức. Mặt khác, việc quy định tội danh này nhằm luật hóa Công ước về lao động cưỡng bức của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) mà Việt Nam đã phê chuẩn đồng thời bảo đảm quyền con người, quyền công dân.
Cấu thành tội phạm của Điều luật này là:
a) Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động.
Hành vi phạm tội gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; 
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%.
Trường hợp người thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động chưa gây hậu quả nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì cũng bị xử lý theo tội phạm này.
b) Về khách thể: Hành vi phạm tội xâm phạm quyền tự do, xâm phạm sức khỏe của người khác.
c) Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
d) Chủ thể của tội phạm này là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi từ đủ 16 trở lên.
Về hình phạt: có nhiều mức hình phạt quy định từ khoản 1 đến khoản 3 tương ứng với hành vi phạm tội và thiệt hại vật chất bao gồm hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 12 năm.
Khung 1: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản nêu ở mặt khách quan của tội này.
Khung 2: Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm áp dụng trong các trường hợp sau:
+ Có tổ chức;
+ Đối với 02 người trở lên;
+ Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 61% trở lên;
+ Tái phạm nguy hiểm.
Khung 3: Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm khi thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Làm chết 02 người trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình phạt bổ sung: bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 298. Tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng
- Cụ thể hóa hậu quả gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác bằng: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể; gây thiệt hại về tài sản tại từng khoản.
- So với BLHS 1999 thì BLHS 2015 loại trừ hành vi ở Điều 224 (Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng).
- Bổ sung khoản 4 quy định những hành vi trên nhưng mức độ hậu quả không nằm trong các khoản 1, 2, 3 của Điều luật: Người vi phạm quy định về xây dựng trong các lĩnh vực khảo sát, thiết kế, thi công, sử dụng nguyên liệu, vật liệu, máy móc, giám sát, nghiệm thu công trình hay các lĩnh vực khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 225 hoặc Điều 281 của Bộ luật này, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Về hình phạt: tăng mức phạt tiền và phạt tù ở khoản 1, tăng mức phạt tiền ở hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 của Điều luật.
Điều 299. Tội khủng bố
- Bổ sung các hành vi phạm tội quy định tại khoản 2 để phù hợp với Luật phòng, chống khủng bố năm 2013, đó là: Thành lập, tham gia tổ chức khủng bố, tổ chức tài trợ khủng bố; Cưỡng ép, lôi kéo, tuyển mộ, đào tạo, huấn luyện phần tử khủng bố; chế tạo, cung cấp vũ khí cho phần tử khủng bố; Xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe hoặc chiếm giữ, làm hư hại tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Quy định cụ thể về hình phạt đối với người chuẩn bị phạm tội khủng bố là bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- Bổ sung quy định đối với người phạm tội khủng bố có thể bị tước một số quyền công dân.
Điều 300. Tội tài trợ khủng bố
Điểm mới của Điều luật này là quy định cụ thể về hình phạt đối với người chuẩn bị phạm tội tài trợ khủng bố là bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 301. Tội bắt cóc con tin
Tội bắt cóc con tin được bổ sung mới trên tinh thần các quy định của Công ước chống bắt cóc con tin năm 1979 mà Việt Nam là thành viên nhằm bảo đảm quyền con người, an ninh quốc gia, quốc tế. Trên thực tế những hành vi bắt giữ, giam người khác làm con tin và đe dọa giết, làm bị thương hoặc tiếp tục giam, giữ người đó nhằm cưỡng ép một quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân làm hoặc không làm một việc như một điều kiện để thả con tin là rất nguy hiểm, không những xâm phạm quyền con người mà còn ảnh hưởng đến quốc gia nhưng chưa được quy định thành tội phạm độc lập trong BLHS năm 1999, đến nay mới được bổ sung vào BLHS năm 2015.
Cấu thành tội phạm của Điều luật:
a) Mặt khách quan của tội phạm
Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này là: bắt giữ, giam người khác làm con tin và đe dọa giết, làm bị thương hoặc tiếp tục giam, giữ người đó nhằm cưỡng ép một quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân làm hoặc không làm một việc như một điều kiện để thả con tin, trừ trường hợp là hành vi phạm tội quy định tại Điều 113 (Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản) và Điều 299 (Tội khủng bố).
Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Tội phạm hoàn thành khi hành vi phạm tội được thực hiện.
b) Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp; mục đích là của người phạm tội là nhằm cưỡng ép một quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân làm hoặc không làm một việc.
c) Khách thể của tội phạm: tội phạm này xâm phạm đến bảm đảm trật tự, an toàn xã hội, hoạt động bình thường của nhà nước, cơ quan, tổ chức; xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người.
d) Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
Hình phạt: Điều luật quy định bốn khung hình phạt chính.
Khung 1: Người phạm tội thuộc khoản 1 thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khung 2. Người phạm tội thuộc khoản 2 thì thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm. Đó là các trường hợp phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Có tổ chức;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
+ Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người đủ 70 tuổi trở lên;
+ Phạm tội đối với người thi hành công vụ;
+ Đối với 02 người trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%;
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
Khung 3: Người phạm tội thuộc khoản 3 thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Đó là các trường hợp phạm tội sau:
+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.
Khung 4: Người phạm tội thuộc khoản 4 thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Đó là một trong các trường hợp phạm tội sau:
+ Làm chết 02 người trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;
+ Gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên.
Trường hợp chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Điều 302. Tội cướp biển
Tội cướp biển được bổ sung mới trên tinh thần các quy định của Công ước Luật biển năm 1982 mà Việt Nam là thành viên nhằm góp phần tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh chống cướp biển, góp phần bảo đảm an toàn hàng hải và bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của con người trên biển cả hoặc ở nơi không thuộc quyền tài phán của quốc gia nào.
Cấu thành tội phạm:
a) Mặt khách quan của tội phạm. Hành vi phạm tội này bao gồm:
+ Tấn công tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác  đang ở biển cả hoặc ở nơi không thuộc quyền tài phán của quốc gia nào;
+ Tấn công hoặc bắt giữ người trên tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác;
+ Cướp phá tài sản trên tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác.
Hành vi phạm tội được thực hiện ở biển cả hoặc nơi không thuộc quyền tài phán của quốc gia nào.
Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấn thành tội phạm.
b) Khách thể của tội phạm: hành vi cướp biển xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội; sự an toàn của tàu biển, phương tiện bay hoặc phương tiện hàng hải khác; tính mạng, sức khỏe con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
c) Mặt chủ quan của tội phạm: Tội cướp biển được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
d) Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
Về hình phạt: tội phạm này có mức hình phạt thấp nhất là 05 năm tù, cao nhất là tù chung thân, được chia thành 4 khung; đó là:
Khung 1: Phạt tù từ 05 năm đến 10 năm áp dụng đối với trường hợp phạm tội thuộc khoản 1.
Khung 2: Phạt tù từ 10 năm đến 15 năm áp dụng trong các trường hợp thuộc khoản 2; đó là phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau:
+ Có tổ chức, được hiểu là có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện đồng phạm;
+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
Khung 3: Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm đối với các trường hợp phạm tội thuộc khoản 3; đó là các trường hợp sau:
+ Làm chết 02 người;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
Khung 4: Phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân, áp dụng một trong các trường hợp sau:
+ Làm chết 03 người trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
+ Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên;
+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên. 
Người thực hiện hành vi chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 303. Tội phá huỷ công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia
- Ngoài công trình, phương tiện quan trọng về an sinh quốc gia như quy định của Điều 231 BLHS năm 1999, Điều 303 BLHS năm 2015 bổ sung đối tượng tác động của tội phạm là cơ sở quan trọng về an ninh quốc gia cho đầy đủ đối tượng cần bảo vệ của Điều luật này.
- Cụ thể dấu hiệu hậu quả của tội phạm bằng: Làm chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người hoặc nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị cụ thể; Gây thiệt hại về tài sản tại từng khoản.
- Điều luật đã bỏ hình phạt tử hình quy định tại khoản 2 Điều 231 BLHS 1999.
- Quy định cụ thể về hình phạt đối với người chuẩn bị phạm tội là bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 304. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
Điều luật sửa đổi theo hướng cụ thể hóa định lượng của cấu thành tội phạm trên cơ sở Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30 tháng 6 năm 2011 về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Cấu thành tội phạm của Điều luật:
- Mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi thuộc mặt khách quan của các tội phạm này là chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.
Đối tượng tác động của các tội phạm này là vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.
- Mặt chủ quan của tội phạm: Các tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý, mục đích, động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
- Khách thể của tội phạm: Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự trật tự, an toàn xã hội; trật tự quản lý nhà nước về vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự.
- Chủ thể của các tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở đã thực hiện hành vi phạm tội quy định tại các khoản trong Điều luật; người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã thực hiện hành vi phạm tội quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều luật.
- Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung quy định tại Khoản 5 Điều 304.
Điều 305. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ
Điều luật được sửa đổi nhằm cụ thể hóa mức định lượng của cấu thành tội phạm đối với các thuật ngữ “Vật phạm pháp có số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn”; “Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”; bổ sung quy định về yếu tố mua bán qua biên giới; hậu quả do tội phạm gây ra (làm chết người, thương tích, tổn hại cho sức khỏe, thiệt hài về tài sản).
Điều 306. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng tác dụng tương tự
- So với Điều 233 BLHS năm 1999, Điều 306 này bổ sung đối tượng tác động của tội phạm là súng săn, vũ khí thể thao, và các vũ khí khác có tính năng tác dụng tương tự để phù hợp với Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30 tháng 6 năm 2011 về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
- Quy định cụ thể định lượng về đối tượng tác động của tội phạm (súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các loại vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao), hậu quả do tội phạm gây ra (làm chết người, gây thương tích, gây tổn hại sức khỏe của con người, gây thiệt hại về tài sản) trong từng khoản của điều luật và bổ sung tình tiết vận chuyển, mua bán qua biên giới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội phạm.
Điều 307. Tội vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ
Quy định cụ thể định lượng hậu quả của tội phạm ở từng khoản của Điều luật (làm chết người, gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, gây thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân).
Điều 308. Tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng
Như Điều 307, điểm mới của điều luật là quy định cụ thể định lượng hậu quả của tội phạm ở từng khoản của Điều luật (làm chết người, gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, gây thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân).
Điều 309. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân
- Điều 309 BLHS 2015 sửa đổi Điều 236 BLHS 1999 theo hướng bổ sung đối tượng tác động của tội phạm là hành vi phát tán chất phóng xạ; sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt đối với vật liệu hạt nhân vào cấu thành tội phạm.
- Quy định cụ thể hậu quả do tội phạm gây ra trong từng khoản (làm chết người, gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, gây thiệt hại về tài sản).
- Bổ sung khoản 5, Điều 309 để điều chỉnh những hành vi gây hậu quả nhưng không nằm trong khoảng của các khoản 1, 2, 3, 4 của Điều luật: Người sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, phát tán, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Về hình phạt: Cấu trúc lại hình phạt trong 5 khoản, thu hẹp khoảng cách hình phạt giữa các khoản.
Điều 310. Tội vi phạm quy định về quản lý chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân
- Bổ sung hành vi vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển vật liệu hạt nhân trong cấu thành tội phạm.
- Bổ sung khoản 4 để điều chỉnh những hành vi gây hậu quả nhưng không nằm trong khoảng của các khoản 1, 2, 3 của Điều luật: Người vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển, mua bán chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 311. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán trái phép chất cháy, chất độc
- Quy định cụ thể hậu quả do tội phạm gây ra trong từng khoản (làm chết người, gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, gây thiệt hại về tài sản). Bởi, thực tiễn cho thấy việc sản xuất, sử dụng các chất chất cháy, chất độc không đúng quy định gây hậu quả rất nghiêm trọng, có thể ảnh hưởng đến nhiều người và lâu dài, vì vậy việc sửa đổi bổ sung điều luật để việc áp dụng được thống nhất và nâng cao tính răn đe là cần thiết. Hơn nữa, Việt Nam gia nhập Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học, vì vậy việc luật hóa các quy định phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế là cần thiết. Sử dụng những hóa chất độc được quy định tại các Bảng 1, 2, 3 của Công ước cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học để đưa vào khung hình phạt để phân hóa trách nhiệm hình sự, thuận lợi cho thực tiễn áp dụng.
Điều 312. Tội vi phạm quy định về quản lý chất cháy, chất độc
- Cụ thể về định lượng hậu quả của tội phạm ở từng khoản của điều luật (làm chết người, gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe khác, gây thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân).
- Bổ sung khoản 4: Người vi phạm quy định về quản lý việc sản xuất, trang bị, sử dụng, bảo quản, lưu giữ, vận chuyển hoặc mua bán chất cháy, chất độc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Điều 313. Tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy
Điều luật cụ thể về định lượng hậu quả của tội phạm ở từng khoản của điều luật (làm chết người, gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe khác, gây thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân). Đồng thời, thu hẹp mức hình phạt tại các khoản để sát với thực tế, tương ứng với tỷ lệ hậu quả xảy ra và hạn chế việc tùy nghi trong việc áp dụng pháp luật của người tiến hành tố tụng. Nâng mức hình phạt tại Khoản 1 Điều 240 BLHS 1999, trước đây hình phạt từ 6 tháng đến 5 năm nay sửa đổi thành từ 2 năm đến 5 năm. Nâng mức phạt tiền ở hình phạt bổ sung từ 5 triệu đến 50 triệu thành 10 triệu đến 50 triệu. Bởi, thực tế hiện nay cho thấy, các vụ cháy xảy ra tương đối nhiều, ở những thành phố lớn, khu công nghiệp nơi có đông dân cư và người qua lại. Các vụ cháy có khả năng xảy ra thiệt hại lớn về người và tài sản, vì vậy việc nâng mức hình phạt là cần thiết để răn đe, cảnh báo.
Điều 314. Tội vi phạm quy định về an toàn vận hành công trình điện
- Cụ thể về định lượng hậu quả của tội phạm ở từng khoản của điều luật (làm chết người, gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe khác, gây thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân).
- Bổ sung hình phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu vào Khoản 1, 2 và 4 của Điều luật.
- Bổ sung tình tiết “đ) Lắp các thiết bị điện hoặc thi công đường điện không bảo đảm an toàn” vào khoản 1 của Điều luật.
Điều 315. Tội vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác
- Cụ thể về định lượng hậu quả của tội phạm ở từng khoản của điều luật (làm chết người, gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe khác, gây thiệt hại về tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân).
- Bổ sung khoản 4: Người vi phạm quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 259 của Bộ luật này, gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
- Tăng mức phạt tiền ở hình phạt bổ sung từ 5 triệu đến 50 triệu thành 10 triệu đến 50 triệu.
Điều 316. Tội phá thai trái phép
Điểm mới của điều luật là quy định cụ thể về định lượng hậu quả của tội phạm trong từng khoản, khung hình phạt (thiệt hại tính mạng, sức khỏe con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân).
Điều 317. Tội vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
- Điều luật được điều chỉnh lại theo hướng hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm. Hay nói cách khác, trong một số trường hợp, tội phạm này có cấu thành hình thức, tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm, không cần có hậu quả xảy ra như điểm a, b, c khoản 1. Chỉ coi là tội phạm khi người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý; điểm b khoản 1 được quy định trên cơ sở căn cứ vào hậu quả gây tổn hại sức khỏe người tiêu dùng theo tỷ lệ % hoặc thu lợi bất chính.
- Bổ sung các tình tiết định khung ở khoản 2 như:
a) Phạm tội có tổ chức;
e) Phạm tội 02 lần trở lên;
g) Tái phạm nguy hiểm.
- Về hình phạt: Bổ sung hình phạt tiền từ 50 triệu đến 200 triệu tại khoản 1; từ 200 triệu đến 500 triệu tại khoản 2; nâng mức phạt của hình phạt bổ sung từ 5 triệu đến 50 triệu lên thành từ 20 triệu đến 100 triệu.
MỤC 4. CÁC TỘI PHẠM KHÁC XÂM PHẠM TRẬT TỰ CÔNG CỘNG
Điều 318. Tội gây rối trật tự công cộng
- Thay thế tình tiết định lượng “gây hậu quả nghiêm trọng” bằng việc “gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” trong cấu thành cơ bản của tội phạm.
- Nâng mức hình phạt tại khoản 1 từ 1 triệu đến 10 triệu thành 5 triệu đến 50 triệu.
Điều 319. Tội xâm phạm thi thể, mồ mả, hài cốt
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” trong cấu thành tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 246 BLHS 1999.
- Khoản 2 của Điều luật này đã bổ sung các tình tiết định khung cụ thể như sau: a) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; b) Chiếm đoạt hoặc hủy hoại vật có giá trị lịch sử, văn hóa; c) Vì động cơ đê hèn; d) Chiếm đoạt bộ phận thi thể, hài cốt.
- Nâng mức phạt cải tạo không giam giữ quy định tại Khoản 1 Điều 246 lên thành 2 năm, nâng mức phạt tiền quy định tại khoản 1 Điều 247 từ 5 triệu đến 50 triệu thành từ 10 triệu 100 triệu.
Điều 320. Tội hành nghề mê tín, dị đoan
- Bỏ dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” trong cấu thành cơ bản của tội phạm tại khoản 1 Điều 247 BLHS năm 1999.
- Thay thế tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại Khoản 2 Điều 247 thành: Thu lợi bất chính 200.000.000 đồng trở lên; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Nâng mức hình phạt bổ sung phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng theo Điều 247 BLHS năm 1999 thành phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Điều 321. Tội đánh bạc
Nâng mức tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc trị giá từ 2 triệu đồng đến 50 triệu tại khoản 1 Điều 248 BLHS 1999 lên thành 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng tại khoản 1 Điều này. Khoản 2 của Điều luật bổ sung tình tiết định khung “c) Sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;”.
Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc
- Ngoài dấu hiệu đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi đánh bạc hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội tôi đánh bạc, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm như quy định tại Điều 249 BLHS năm 1999, Điều 322 BLHS còn bổ sung một số tình tiết là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội phạm; đó là: tổ chức, sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên; tổng số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần có giá trị 20.000.000 đồng trở lên; tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc; phân công người canh gác, người phục vụ, sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc.
- Quy định cụ thể tình tiết “thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn” tại khoản 2 Điều 249 BLHS năm 1999 bằng dấu hiệu “thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên”.
- Nâng mức phạt tiền ở khoản 1 theo Điều 249 BLHS năm 1999 “phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng thành “phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng”.
- Sửa đổi hình phạt bổ sung quy định tại Điều 249 BLHS năm 1999 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” bằng “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Nâng mức phạt tiền quy định ở khoản 1 Điều 250 lên thành từ 10 triệu đến 100 triệu đồng. Nâng số lượng tiền ở hình phạt bổ sung từ 3 triệu đến 30 triệu thành từ 5 triệu đến 50 triệu.
- Hình phạt tù quy định tại các khoản 2,3,4 có sự thay đổi, khoản 2 nâng mức khởi điểm hình phạt từ 3 năm tù trong khi luật hiện hành là 2 năm tù. BLHS 2015 cũng cấu trúc lại hình phạt các khoản theo hướng thu hẹp lại khoảng cách các hình phạt để thuận tiện cho việc áp dụng và giảm sự tùy nghi khi áp dụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Điều 324. Tội rửa tiền
- Trong cấu thành cơ bản của tội phạt rửa tiền đã cụ thể hóa cụm từ “tiền, tài sản biết rõ là do phạm tội mà có” thành chi tiết hơn thể hiện “tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có”. Như vậy Điều 324 đã tách biệt tài sản biết rõ là do phạm tội mà có thành: do chính mình phạm tội mà có; hoặc do người khác phạm tội mà có mà mình biết hoặc có cơ sở để biết tiền hoặc tài sản đó do người khác phạm tội mà có.
- Khoản 2, 3 Điều 324 BLHS 2015 đã lượng hóa các tình tiết có tính định tính của Điều 251 BLHS 1999 như “Phạm tội nhiều lần”; “Tiền, tài sản phạm tội có giá trị lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn”; “Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn”; “Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”.
- Điều 324 cũng bổ sung khoản 4 để quy định chi tiết hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội của loại tội này.
- Khoản 5 của Điều 324 cụ thể hóa mức phạt tiền là hình phạt bổ sung với loại tội phạm này, theo Điều 251 BLHS 1999 chỉ quy định mức chung chung của hình phạt tiền bổ sung này là phạt đến ba lần số tiền hoặc giá trị tài sản phạm tội nhưng Điều 324 BLHS 2015 đã quy định mức phạt tiền là từ 20 triệu đến 100 triệu.
Điều 325. Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp
- Điều luật đã sửa đổi cấu thành cơ bản của tội phạm theo hướng quy định rõ chủ thể của tội phạm phải là người đủ 18 tuổi trở lên. Đồng thời, quy định cụ thể các hành vi phạm tội gồm: Rủ rê, dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động, xúi giục và Đe doạ, uy hiếp, dùng vũ lực hoặc có những hành vi khác ép buộc.
- Bãi bỏ tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” và thay vào đó tình tiết rõ ràng, cụ thể hơn: Rủ rê, dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động, xúi giục, đe dọa, uy hiếp, ép buộc, chứa chấp người dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Điều 325 tăng mức hình phạt tiền là hình phạt bổ sung so với Điều 252 BLHS 1999 từ 03 triệu đến 30 triệu thành từ 10 triệu đến 100 triệu.
Điều 326. Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy
- Bổ sung cụm từ “Khiêu dâm” vào cấu thành cơ bản của Điều luật.
- Cụ thể số lượng sách, báo, tranh, ảnh và bổ sung dữ liệu điện tử đã được số hóa theo dung lượng. Mức phổ biến cho bao nhiêu người cũng được lượng hóa cho từng khoản tương ứng.
- Bổ sung một số tình tiết định khung như: sử dụng mạng internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội.
- Về hình phạt: Khoản 1 Điều 326 đã tăng mức phạt tiền so với BLHS 1999 từ 5 triệu đến 50 triệu thành từ 10 triệu đến 100 triệu. Khoản 4 cũng tăng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 3 triệu đến 30 triệu thành từ 5 triệu đến 30 triệu và cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 327. Tội chứa mại dâm
- Bổ sung tình tiết thu lợi bất chính và lượng hóa số tiền thu lời này. Đồng thời cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” bằng những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 của điều luật.
- Bổ sung tình tiết “Chứa mại dâm 04 người trở lên” tại khoản 2.
- Về hình phạt: giảm khoảng cách giữa các khung hình phạt để hạn chế việc tùy nghi trong thực tiễn áp dụng. Tăng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 của Điều luật từ 5 triệu đến 100 triệu thành 10 triệu đến 100 triệu.
Điều 328. Tội môi giới mại dâm
- Sửa đổi cấu thành cơ bản của tội này thành theo hướng “Người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm…” để bảo đảm rõ ràng, thuận lợi cho thực tiễn áp dụng.
- Thay cụm từ “Phạm tội nhiều lần”, “Đối với nhiều người” thành “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Đối với 02 người trở lên”; bãi bỏ tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng”, bổ sung tình tiết số tiền thu lợi bất chính ở khoản 2, 3 của Điều luật.
- Về hình phạt: Điều 328 BLHS 2015 đã giảm mức hình phạt so với Điều 255 BLHS 1999 theo đó, Điều 328 đã bỏ khoản 4 của Điều 255 quy định mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm; nâng mức phạt của hình phạt bổ sung từ 01 triệu đồng đến 10 triệu đồng thành từ 10 triệu đến 50 triệu đồng.
Điều 329. Tội mua dâm người dưới 18 tuổi
- Thay cụm từ “người chưa thành niên” ở Điều 256 BLHS 1999 thành “người dưới 18 tuổi”.
- Quy định cụ thể chủ thể của tội phạm trong cấu thành cơ bản của Điều luật: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mua dâm người dưới 18 tuổi”.
- Khoản 3 Điều 329 BLHS 2015 bỏ tình tiết “Biết mình bị HIV mà vẫn phạm tội” quy định tại khoản 3 Điều 256 BLHS 1999.
 
CHƯƠNG XXII. CÁC TỘI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Chương các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính của BLHS năm 2015 gồm 22 điều (từ Điều 230 đến Điều 351), trong đó sửa đổi 16 điều, giữ nguyên 04 điều, bổ sung mới 02 điều, bãi bỏ 01 điều. Cụ thể như sau:
- Bãi bỏ tội không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính quy định tại Điều 269 BLHS năm 1999. Lý do bãi bỏ:
+ Đối với biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh: Theo quy đinh tại các Điều 99, 100, 101, 102, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, thẩm quyền áp dụng các biện pháp này do Tòa án quyết định. Do đó, nếu không chấp hành quyết định của Tòa án thì được xác định là tội không chấp hành án (Điều 380 BLHS 2015). 
+ Đối với biện pháp quản chế hành chính: Trước đây, theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì quản chế hành chính là biện pháp do chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định áp dụng với người có hành vi vi phạm pháp luật phương hại đến an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH11 ngày 08/3/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính đã bỏ biện pháp quản chế hành chính. Vì vậy, cần phải bỏ tội danh "không chấp hành quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản chế hành chính" quy định tại Điều 269 BLHS năm 1999.
- Tội phạm hóa hành vi môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép tại Điều 349.
- Tách Điều 275 BLHS năm 1999 quy định về tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép thành 02 điều luật (Điều 349. Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, Điều 350. Tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép) đề phân hóa chính sách hình sự đối với các tội phạm này.
- Quy định phạt tiền là hình phạt chính đối với 04 tội danh thuộc chương này. Đó là các tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 340); làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Điều 341); chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức (Điều 342).
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Điều 330. Tội chống người thi hành công vụ
- Cụ thể hóa tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 2 Điều 257 BLHS năm 1999 thành thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên tại khoản 2;
- Sửa đổi tình tiết “Phạm tội nhiều lần” tại Điểm a Khoản 2 Điều 257 BLHS 1999 thành “Phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 330 BLHS 2015
Điều 331. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
- Sửa đổi cụm từ “công dân” tại Điều 258 BLHS năm 2015 bằng cụm từ “cá nhân” để mở rộng khách thể bảo vệ phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu thực tiễn của quá trình hội nhập quốc tế những năm gần đây của nước ta.
- Sửa đổi tiết định khung của khoản 2 Điều 258 BLHS năm 1999 “Phạm tội trong trường hợp nghiêm trọng” bằng tình tiết “Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”.
Các Điều 332. Tội trốn tránh nghĩa vụ quân sự; Điều 333. Tội không chấp hành lệnh gọi quân nhân dự bị nhập ngũ; Điều 334. Tội làm trái quy định về việc thực hiện nghĩa vụ quân sự; Điều 335. Tội cản trở việc thực hiện nghĩa vụ quân sự được giữ nguyên nội dung như các điều 259, 260, 261 và 262 BLHS năm 1999, chỉ sửa về kỹ thuật trình bày văn bản, như: Mức của các hình phạt chính, hình phạt bổ sung (phạt tù, phạt tiền ...) sửa từ viết bằng số thành viết bằng chữ.
Điều 336. Tội đăng ký hộ tịch trái pháp luật
Đây là tội phạm mới được hình thành trên cơ sở thu hút tội đăng ký kết hôn trái pháp luật quy định tại Điều 149 của BLHS năm 1999 và bổ sung hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực đăng ký hội tịch để xử lý về hình sự đối với một số hành vi vi phạm phát sinh trong hoạt động đăng ký hộ tịch.
Cấu thành tội phạm này gồm có:
a) Mặt khách quan của tội phạm: Hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này là: đăng ký hộ tịch trái pháp luật; cấp giấy tờ về hộ tịch trái pháp luật. Các hành vi vi phạm nêu trên chỉ cấu thành tội phạm nếu như trước đó người thực hiện hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm.
b) Về khách thể: tội phạm này xâm đến trật tự quản lý nhà nước về đăng ký hộ tịch.
c) Mặt chủ quan của tội phạm: tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
d) Chủ thể tội phạm này là chủ thể đặc biệt, đó là người nào có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động đăng ký hộ tịch.
e) Về hình phạt: Tội phạm này có 02 khung hình phạt chính và 01 khung hình phạt bổ sung; cụ thể là: Khung 1: Phạt cảnh cáo hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm; Khung 2: Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 337. Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy tài liệu bí mật nhà nước
Cụ thể hóa các dấu hiệu phạm tội “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 263 BLHS năm 1999 bằng các hậu quả cụ thể và thêm một số tình tiết định khung hình phạt ở các khoản này, cụ thể là:
- Tình tiết định khung duy nhất ở Khoản 2 Điều 263 BLHS 1999 “Gây hậu quả nghiêm trọng” được sửa đổi cụ thể hóa và bổ sung thêm một số tình tiết ở các Điểm a, b, c Khoản 2 Điều 337 BLHS 2015 là: “a) Bí mật nhà nước thuộc độ tối mật; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; c) Gây tổn hại về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa”.
- Tình tiết định khung Khoản 3 Điều 263 BLHS 1999 “Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” được sửa đổi cụ thể hóa và bổ sung thêm một số tình tiết thành các Điểm a, b, c, d Khoản 3 Điều 337 BLHS 2015 là: a) Có tổ chức; b) Bí mật nhà nước thuộc độ tuyệt mật; c) Phạm tội 02 lần trở lên; d) Gây tổn hại về chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Điều 338. Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước; tội làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước
Bãi bỏ tình tiết “Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 2 Điều 264 BLHS năm 1999, đồng thời bổ sung các tình tiết: “Bí mật nhà nước thuộc độ tối mật, tuyệt mật”; “Gây tổn hại về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa chế độ chính trị, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ” tại khoản 2 Điều 338.
Điều 339. Tội giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác
Tội phạm hóa hành vi giả mạo vị trí công tác để thực hiện hành vi trái pháp luật và bổ sung quy định loại trừ trường hợp người thực hiện một trong các hành vi quy định trong điều luật này không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Theo đó, nếu người thực hiện hành vi giả mạo chức vụ, cấp bậc, vị trí công tác nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì không phải là hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm này mà có thể là hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm khác như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và người thực hiện hành vi vi phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm đó nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa của cấu thành tội phạm.
Điều 340. Tội sửa chữa và sử dụng giấy chứng nhận, các tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Theo quy định của BLHS năm 1999, hành vi sửa chữa, làm sai lệch nội dung hộ chiếu, thị thực, hộ khẩu, hộ tịch, các loại giấy chứng nhận hoặc tài liệu của cơ quan, tổ chức và sử dụng giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm là hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm này, nay theo quy định của BLHS năm 2015 những hành vi nêu trên bị coi là tội phạm nếu người thực hiện hành vi sử dụng giấy tờ đó thực hiện tội phạm hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
- Sửa đổi tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 2 Điều 266 BLHS năm 1999 bằng tình tiết “Sử dụng giấy tờ, tài liệu đã bị sửa chữa hoặc làm sai lệch thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng”.
- Tình tiết định khung khoản 2 được sửa đổi và bổ sung: Bỏ tình tiết “Có tổ chức” quy định tại điểm a; sửa đổi tình tiết “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 266 BLHS 1999 thành tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm a Điều 340 BLHS 2015
- Hình phạt: Tại khoản 1 Điều 266 BLHS năm 1999, hình phạt chính là từ 01 triệu đến 10 triệu, Điều 340 BLHS năm 2015 sửa lại thành từ 10 triệu đến 50 triệu; Tại khoản 3 Điều 266 BLHS năm 1999 hình phạt bổ sung từ 01 triệu đến 5 triệu, Điều 340 BLHS năm 2015 sửa thành từ 5 triệu đến 20 triệu.
Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Bổ sung vào tên của điều luật “tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” để đầy đủ, phù hợp với nội dung của điều luật.
- Sửa dấu hiệu trong cấu thành cơ bản của tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 267 BLHS năm 1999 “nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân” bằng dấu hiệu “thực hiện hành vi trái pháp luật” (khoản 1 Điều 341 BLHS năm 2015).
- Cụ thể hóa các tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng tại khoản 2 và khoản 3 Điều 267 BLHS năm 1999 bằng số lượng cụ thể con dấu, tài liệu giấy tờ bị làm giả, số tiền thu lợi bất chính và việc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó thực hiện từng loại tội phạm cụ thể ở từng khoản của điều luật, cụ thê là:
+ Tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại điểm c Khoản 2 Đ 267 BLHS 1999 sửa đổi, cụ thể thành các điểm c, d, đ K2 Đ341 BLHS 2015 lần lượt là “c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác; d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm;đ) Thu lợi bất chính 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”.
+ Tình tiết định khung Khoản 3 “Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” sửa đổi, cụ thể hòa thành các điểm:  a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên; b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng; c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.
- Nâng hình phạt tiền tại khoản 1 từ 5 triệu đến 50 triệu lên từ 30 triệu đến 100 triệu.
- Sửa đổi tình tiết “Phạm tội nhiều lần” quy định tại điểm b Điều 267 BLHS 1999 sửa thành “Phạm tội 02 lần trở lên” tại Điểm b Khoản 2 Điều 341 BLHS năm 2015.
- Giảm mức mức hình phạt tù đầu khung ở Khoản 3 từ 4 năm xuống 3 năm
Điều 342. Tội chiếm đoạt, mua bán, tiêu hủy con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Sửa đổi cụm từ “cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội” tại tên điều luật và khoản 1 Điều 268 BLHS năm 1999 bằng cụm từ “cơ quan, tổ chức” tại Điều 342 BLHS năm 2015 cả trong tiêu đề tội danh và cấu thành cơ bản khoản 1.
- Sửa đổi tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng tại khoản 2 Điều 268 BLHS năm 1999 bằng các tình tiết “Thu lợi bất chính 10.000.000 đồng trở lên” và “Thực hiện hành vi trái pháp luật”.
- Sửa đổi mức hình phạt chính và hình phạt bổ sung ở các khoản của điều luật theo hướng tăng lên, cụ thể:
+ Nâng hình phạt tiền là hình phạt chính ở khoản 1  từ “01 triệu đồng đến 10 triệu đồng” lên “từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng”. Nâng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung quy định tại khoản 3 “từ 1 triệu đồng đến 5 triệu đồng” lên “từ 5 triệu đồng đến 20 triệu đồng”.
+ Nâng mức hình phạt tù đầu khung ở khoản 2 từ “1 năm” lên “2 năm
Điều 343. Tội vi phạm các quy định về quản lý nhà ở
Điều luật này giữ nguyên nội dung như Điều 272 BLHS năm 1999, chỉ sửa kỹ thuật trình bày, như: Mức của các hình phạt chính, hình phạt bổ sung (phạt tù, phạt tiền ...).
Điều 344. Tội vi phạm các quy định về hoạt động xuất bản
- Các hành vi về xuất bản, phát hành sách, báo, đĩa âm thanh, băng âm thanh, đĩa hình, băng hình hoặc các ấn phẩm khác được nêu trong Điều 271 BLHS năm 1999 được BLHS năm 2015 gọi chung và sửa đổi thành hoạt động xuất bản cho phù hợp với Luật xuất bản năm 2012. Do đó, tiêu đề của tội danh được sửa đổi ngắn gọn lại.
- So với Điều 271 BLHS năm 1999, Điều 344 BLHS năm 2015 đã quy định cụ thể hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm; đó là những hành vi quy định từ điểm a đến điểm e khoản 1 Điều luật.
- So với Điều 271 BLHS năm 1999, Điều 344 BLHS năm 2015 bổ sung một khoản (khoản 2) quy định cấu thành tăng nặng của tội phạm và quy định cụ thể định lượng ở từng khoản của Điều luật; đồng thời, nâng mức hình phạt (cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung) đối với tội phạm.
- Hình phạt chính là phạt tiền từ 10 triệu đến 100 triệu nâng lên từ 20 triệu đến 200 triệu; hình phạt cải tạo không giam giữ từ đến 01 năm lên đến 02 năm; nâng mức cao nhất của mức hình phạt tù từ 01 năm lên 02 năm. Hình phạt tiền bổ sung được nâng từ 10 triệu đến 50 triệu lên từ 20 triệu đến 100 triệu.
Điều 345. Tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng
- Đối tượng bị xâm hại là di tích lịch sử và văn hóa trong Điều 272 BLHS năm 1999 được tách thành hai vấn đề riêng biệt, Điều 345 BLHS năm 2015 được sửa gộp thành khái niệm chung là di tích lịch sử - văn hóa.
- Quy định cụ thể các dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng”, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” bằng định lượng cụ thể thiệt do hành vi phạm tội gây ra (trị giá bằng tiền) và cấp độ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam, thắng cảnh bị xâm hại, cụ thể: 
+ Tình tiết định tội “Gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại Khoản 1 Điều 272 BLHS năm 1999 được sửa đổi, cụ thể hóa tại Điều 345 BLHS năm 2015 là: “gây hư hại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam, thắng cảnh có giá trị từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; hủy hoại, làm thay đổi yếu tố gốc cấu thành di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp tỉnh”.
+ Tình tiết định khung khoản 2 Điều 272 BLHS năm 1999 là “gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” được sửa đổi, cụ thể hóa tại Khoản 2 Điều 345 BLHS năm 2015 thành: “gây hư hại di tích lịch sử - văn hóa, danh lam, thắng cảnh có giá trị từ 500.000.000 đồng trở lên hoặc hủy hoại, làm thay đổi yếu tố gốc cấu thành di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh cấp quốc gia hoặc cấp quốc gia đặc biệt”,
- Sửa đổi tăng mức hình phạt ở các khoản:  Nâng hình phạt tiền là hình phạt chính ở khoản 1 từ 10 triệu đến 50 triệu lên 30 triệu đến 100 triệu đồng;  Nâng mức phạt tiền ở khoản 4 từ 05 triệu đến 30 triệu lên thành 10 triệu đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ  từ 02 năm lên 03 năm.
Điều 346. Tội vi phạm quy chế về khu vực biên giới
- Khoản 2 Điều 346 BLHS năm 2015 thay dấu hiệu “phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 Điều 273 BLHS năm 1999 bằng dấu hiệu “phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội khu vực biên giới”.
- Sửa đổi nâng mức hình phạt tiền đối với tội phạm, cụ thể:
+ Nâng hình phạt chính là phạt tiền ở khoản 1 mức đầu khung từ 5 triệu lên 10 triệu.
+ Nâng hình phạt bổ sung là phạt tiền ỏ khoản 3 từ 03 triệu đến 30 triệu lên từ 05 triệu đến 50 triệu.
Điều 347. Tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái phép
- So với Điều 274 BLHS năm 1999, cấu thành của tội  vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái phép quy định tại Điều 347 BLHS năm 2015 giữ nguyên, chỉ sửa nâng mức hình phạt đối với tội phạm, cụ thể: Nâng hình phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm lên từ 06 tháng đến 03 năm.
Điều 348. Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép
Đây là điều luật mới bổ sung để hình sự hóa hành vi tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép xảy ra khá phổ biến trong thời gian qua, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự quản lý nhà nước về xuất, nhập cảnh, cư trú, gây phức tạp về trật tự, an toàn xã hội; đặc biệt là hành vi tổ chức, môi giới cho người ở các nước Châu Phi nhập cảnh Việt Nam trái phép, ở lại Việt Nam trái phép. Tội phạm này có cấu thành như sau:
a) Mặt khách quan của tội phạm: Điều luật quy định hai loại hành vi phạm tội: Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép; Môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép;
b) Khách thể của tội phạm: các hành vi phạm tội nêu trên xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về xuất, nhập cảnh, cư trú; gây phức tạp về trật tự, an toàn xã hội.
c) Mặt chủ quan của tội phạm: Tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ của người phạm tội là vì vụ lợi. Nếu người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội không phải vì vụ lợi mà với động cơ khác thì không cấu thành tội phạm này mà có thể cấu thành tội phạm khác như tội vi phạm quy định về xuất cảnh, nhập cảnh; tội ở lại Việt Nam trái phép quy định tại Điều 347 BLHS năm 2015 với vai trò là người tổ chức, người giúp sức trong vụ đồng phạm...
d) Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
e) Về hình phạt: Tội phạm này có ba khung hình phạt chính và một khung hình phạt bổ sung; cụ thể  là:
Khung 1: phạt tù từ 01 năm đến 05 năm được áp dụng đối với trường hợp phạm tội thuộc cấu thành cơ bản của tội phạm.
Khung 2: phạt tù từ 05 năm đến 10 năm áp dụng trong các trường hợp phạm tội sau đây:  Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với từ 05 người đến 10 người; Có tính chất chuyên nghiệp; Thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; Tái phạm nguy hiểm.
Khung 3: phạt tù từ 07 năm đến 15 năm áp dụng trong các trường hợp pham tội sau đây: Đối với 11 người trở lên;  Thu lợi bất chính 500 triệu đồng trở lên; Làm chết người.
Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung  là phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 349. Tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép
- Điều luật này được tách ra từ Điều 275 BLHS năm 1999 để phân hóa trách nhiệm hình sự giữa hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép và hành vi cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. Đồng thời, hình sự hóa hành vi môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.
- Thay đổi cơ bản các tình tiết định tội ở khoản 1 và khoản 2, cụ thể:
+ Tình tiết “Phạm tội nhiều lần hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng” ở khoản 2 Điều Điều 275 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung bằng các tình tiết ở khoản 2 Điều 349 BLHS năm 2015 là: a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; b) Phạm tội 02 lần trở lên; c) Đối với từ 05 người đến 10 người; d) Có tính chất chuyên nghiệp; đ) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; e) Tái phạm nguy hiểm.
+ Tình tiết “Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” ở khoản 3 Điều 275 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung bằng các tình tiết ở khoản 3 Điều 349 BLHS năm 2015 là: a) Đối với 11 người trở lên; b) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên; c) Làm chết người.
- Giảm mức hình phạt tù ở tất cả các khoản so với Điều 275 BLHS năm 1999.
Điều 350. Tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép
Đây là điều luật được tách ra từ 275 BLHS năm 1999. Trong đó thay đổi cơ bản các tình tiết định tội ở khoản 1 và khoản 2, cụ thể:
- Tình tiết “Phạm tội nhiều lần hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng” ở khoản 2 Điều Điều 275 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung bằng các tình tiết ở khoản 2 Điều 350 BLHS năm 2015 là: a) Phạm tội 02 lần trở lên; b) Đối với từ 05 người đến 10 người; c) Có tính chất chuyên nghiệp; d) Vì động cơ đê hèn; đ) Tái phạm nguy hiểm.
- Tình tiết “Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” ở khoản 3 Điều Điều 275 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung bằng các tình tiết ở khoản 3 Điều 350 BLHS năm 2015 là: a) Đối với 11 người trở lên; b) Làm chết người.
Điều 351. Tội xúc phạm Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca
Cơ bản điều luật và cấu thành cơ bản giữ nguyên, điểm mới của điều luật là bổ sung cụm từ “Quốc ca” là khách thể bảo vệ của điều luật.
 
CHƯƠNG XXIII. CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, các tội phạm về chức vụ nói riêng trong tình hình mới, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, yêu cầu đặt ra đối với việc sửa đổi, bổ sung các tội phạm về chức vụ là phải thể chế hóa đầy đủ, toàn diện chủ trương của Đảng về đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng, chức vụ; tháo gỡ được những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn áp dụng các điều luật hiện hành trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm này, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước; nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên liên quan đến phòng, chống tội phạm tham nhũng, chức vụ, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng.
Với những quan điểm chỉ đạo, định hướng, yêu cầu sửa đổi, bổ sung nêu trên, Chương XXIII BLHS năm 2015 quy định các tội phạm về chức vụ gồm 15 điều (từ Điều 352 đến Điều 366). Các điều luật của Chương XXIII BLHS năm 2015 được chia thành 02 mục: mục 1 quy định về các tội phạm tham nhũng gồm 07 điều (từ Điều 353 đến Điều 359) và mục 2 quy định về các tội phạm khác về chức vụ gồm 07 điều (từ Điều 360 đến Điều 366) và 01 điều về khái niệm tội phạm về chức vụ (Điều 352). So với BLHS năm 1999 (Chương XXI) thì bố cục cũng như số điều luật quy định tại Chương XXIII của BLHS năm 2015 không thay đổi. Tuy nhiên, Chương XXIII BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung tất cả 15 điều của Chương XXI BLHS năm 1999 với những sửa đổi cơ bản, tập trung vào 08 vấn đề lớn: (1) Điều chỉnh khái niệm tội phạm về chức vụ để xử lý tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực tư, đồng thời bổ sung hành vi tham nhũng trong lĩnh vực tư trong một số tội; (2) Điều chỉnh hợp lý mức định lượng tài sản bị chiếm đoạt trong hầu hết các tội phạm trong Chương này cho phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng trong tình hình mới; (3) Điều chỉnh một số cấu thành tội phạm, bổ sung của hối lộ là “lợi ích phi vật chất” trong một số tội; (4) Bổ sung hình phạt tiền là hình phạt chính và hình phạt cải tạo không giam giữ, đồng thời điều chỉnh mức hình phạt trong một số tội; (5) Tách các tình tiết định tính “gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định trong cùng một khung hình phạt trong một số tội để quy định trong các khung hình phạt khác nhau, đồng thời cụ thể hóa tất cả các tình tiết định tính này bằng các thiệt hại cụ thể.
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
 Điều 352. Khái niệm tội phạm về chức vụ
 Để đáp ứng yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 “Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật” (khoản 2 Điều 50), góp phần thực hiện tốt Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên; tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn xử lý hành vi tham nhũng đối với tài sản của doanh nghiệp có phần vốn góp của Nhà nước, trong đó có sự đan xen về sở hữu mà trong nhiều trường hợp không thể tách biệt giữa tài sản, phần vốn góp của nhà nước với tài sản, phần vốn góp của tư nhân, Điều luật này bổ sung từ “nhiệm vụ” sau cụm từ “thực hiện công vụ” để có thể xử lý các hành vi tham nhũng trong lĩnh vực tư, cụ thể như sau:
1. Các tội phạm về chức vụ là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.
2. Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ.
Tuy nhiên, cần lưu ý là: việc mở rộng khái niệm tội phạm về chức vụ cũng như khái niệm người có chức vụ để xử lý các hành vi tham nhũng trong lĩnh vực tư chỉ áp dụng đối với tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ và tội đưa hối lộ.
 Điều 353. Tội tham ô tài sản 
- Để bảo đảm phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng trong tình hình mới, Điều luật điều chỉnh hợp lý mức trị giá tài sản chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng lên thành từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng (khoản 1); từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng lên thành từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (khoản 2); từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng lên thành từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (khoản 3); từ 500.000.000 đồng trở lên lên thành 1.000.000.000 đồng trở lên (khoản 4).
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng khác” ở khoản 2 bằng:
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng;
+ Ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức.
Đồng thời, bổ sung tình tiết định khung tại khoản 2: Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn;
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng khác” ở khoản 3 bằng:
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
+ Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động.
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác” ở khoản 4 bằng thiệt hại gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
- Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng lên thành từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (khoản 5).
- Để xử lý hành vi tham ô tài sản trong lĩnh vực tư, Điều luật bổ sung quy định người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này (khoản 6).
Điều 354. Tội nhận hối lộ
- Để đáp ứng yêu cầu của Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, cấu thành cơ bản của tội này đã được sửa đổi, bổ sung theo hướng người nhận hối lộ cho chính bản thân mình hoặc cho cá nhân, tổ chức khác và quy định của hối lộ không chỉ là lợi ích vật chất mà cả lợi ích phi vật chất (khoản 1). Tuy nhiên, đối với lợi ích phi vật chất, do khó lượng hóa được nên Điều luật chỉ quy định ở khoản 1.
- Để bảo đảm phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng trong tình hình mới, Điều luật điều chỉnh hợp lý của hối lộ là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng lên thành từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng (khoản 1); từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng lên thành từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (khoản 2); từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng lên thành từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (khoản 3); từ 300.000.000 đồng trở lên lên thành 1.000.000.000 đồng trở lên (khoản 4).
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng khác” ở khoản 2 bằng thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng.
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng khác” ở khoản 3 bằng thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác” ở khoản 4 bằng thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
- Thay mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ bằng mức phạt từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (khoản 5).
- Để xử lý hành vi nhận hối lộ trong lĩnh vực tư, Điều luật bổ sung quy định người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này (khoản 6).
 Điều 355. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
- Để bảo đảm phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng trong tình hình mới, Điều luật điều chỉnh hợp lý mức trị giá tài sản chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng lên thành từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng (khoản 1); từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng lên thành từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (khoản 2); từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng lên thành từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (khoản 3); từ 500.000.000 đồng trở lên lên thành 1.000.000.000 đồng trở lên (khoản 4).
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng khác” ở khoản 2 bằng: Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng.
Đồng thời, bổ sung tình tiết định khung tại khoản 2:  Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn.
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng khác” ở khoản 3 bằng:
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng;
+ Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động;
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác” ở khoản 4 bằng: gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
- Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng lên thành từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (khoản 5).
 Điều 356. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Cấu thành cơ bản của tội này bổ sung hậu quả: gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng (khoản 1).
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” ở khoản 2 bằng: thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” ở khoản 3 bằng: thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.
- Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng lên thành từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (khoản 4).
Điều 357. Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ
- Cấu thành cơ bản của tội này bổ sung hậu quả: gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng (khoản 1).
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” ở khoản 2 bằng: thiệt hại về tài sản từ từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
- Tách các tình tiết định khung tăng nặng gây hậu quả rất nghiêm trọng với gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (khoản 3 Điều 282 BLHS năm 1999) để quy định ở 02 khung hình phạt khác nhau trong khoản 3 và khoản 4 của Điều luật này; đồng thời cụ thể hóa các tình tiết định khung tăng nặng và quy định mức hình phạt cho mỗi khung. Cụ thể là gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm (khoản 3); gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm (khoản 4).
- Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng lên thành từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (khoản 5).
Điều 358. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi
- Để bảo đảm phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng trong tình hình mới, Điều luật điều chỉnh hợp lý mức tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng lên thành từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng (khoản 1); từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng lên thành từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (khoản 2); từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng lên thành từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (khoản 3); từ 300.000.000 đồng trở lên lên thành 1.000.000.000 đồng trở lên (khoản 4).
- Để đáp ứng yêu cầu của Công ước của Liên Hợp quốc về chống tham nhũng, cấu thành cơ bản của tội này bổ sung lợi ích phi vật chất (khoản 1). Tuy nhiên, đối với lợi ích phi vật chất, do khó lượng hóa được nên Điều luật chỉ quy định ở khoản 1.
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng khác” ở khoản 2 bằng: thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng.
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng khác” ở khoản 3 bằng: thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng.
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác” ở khoản 4 bằng:  thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên.
- Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng lên thành từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (khoản 5).
Điều 359. Tội giả mạo trong công tác
- Điều luật bỏ 02 tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” “phạm tội nhiều lần”, đồng thời bổ sung tình tiết định ở khoản 2 như sau: làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 02 giấy tờ giả đến 05 giấy tờ giả.
- Điều luật bỏ tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, đồng thời bổ sung tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 3 như sau:
+ Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 05 giấy tờ giả đến 10 giấy tờ giả;
+ Để thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
- Điều luật bỏ tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”, đồng thời bổ sung tình tiết định khung tăng nặng ở khoản 4 như sau:
+ Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 11 giấy tờ giả trở lên;
+ Để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
- Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ 3.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng lên thành từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng (khoản 5).
Điều 360. Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng 
- Điều luật cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” ở khoản 1 bằng:
+ Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
- Điều luật tách các tình tiết định khung tăng nặng gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (khoản 2 Điều 285 BLHS năm 1999) để quy định ở 02 khung hình phạt khác nhau trong khoản 2 và khoản 3 của Điều luật này; đồng thời cụ thể hóa các tình tiết định khung tăng nặng và quy định mức hình phạt cho mỗi khung. Cụ thể, phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm (khoản 2):
+ Làm chết 02 người;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm (khoản 3):
+ Làm chết 03 người trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
+ Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
- Điều luật bổ sung khung giảm nhẹ ở khoản 4 đối với trường hợp người có chức vụ, quyền hạn vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, trừ trường hợp quy định tại các điều 179, 308 và 376 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Điều 361. Tội cố ý làm lộ bí mật công tác; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác 
- Khung cơ bản của điều luật này được sửa đổi theo hướng nâng mức phạt tù tối thiểu từ 03 tháng lên thành 06 tháng (khoản 1).
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” ở khoản 2 bằng:
+ Gây thiệt hại về tài sản 100.000.000 đồng trở lên;
+ Gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của cơ quan, tổ chức;
+ Để người khác sử dụng thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Bổ sung cấu thành tăng nặng định khung ở khoản 2 như sau:
+ Có tổ chức;
+ Phạm tội 02 lần trở lên;
+ Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên;
Điều 362. Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác 
- Khung cơ bản của điều luật này được sửa đổi theo hướng nâng mức tối đa của hình phạt cải tạo không giam giữ từ 02 năm lên thành 03 năm.
- Điều luật tách các tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (khoản 1 Điều 287 BLHS năm 1999) để quy định ở 02 khung hình phạt khác nhau trong khoản 1 và khoản 2 của Điều luật này; đồng thời cụ thể hóa các tình tiết này và quy định mức hình phạt cho mỗi khung. Cụ thể, quy định rõ các tình tiết định tội ở khoản 1 gồm:
+ Gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của cơ quan, tổ chức;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
+ Để người khác sử dụng thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm (khoản 2):
+ Gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên;
+ Để người khác sử dụng thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Điều 363. Tội đào nhiệm 
- Khung cơ bản bổ sung chủ thể của tội phạm này gồm cả viên chức cho phù hợp với Luật công chức, Luật viên chức; đồng thời, nâng mức phạt tù tối thiểu từ 03 tháng lên thành 06 tháng (khoản 1).
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” ở khoản 1 bằng:
+ Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 31% trở lên;
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
Bổ sung cấu thành ở khoản 1 như sau: Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm.
- Cụ thể hóa tình tiết “gây hậu quả rất nghiêm trọng” ở khoản 2 bằng:
+ Làm chết người;
+ Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên;
Điều 364. Tội đưa hối lộ
- Trên tinh thần của Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, Điều luật mô tả rõ phương thức đưa hối lộ, chỉ rõ đối tượng mà người đưa hối lộ nhằm đến, đó là: trực tiếp hay qua trung gian đã đưa hoặc sẽ đưa cho người có chức vụ, quyền hạn hoặc người khác hoặc tổ chức khác bất kỳ lợi ích nào (kể cả lợi ích vật chất và lợi ích phi vật chất). Đối với lợi ích phi vật chất, do khó lượng hóa được nên Điều luật chỉ quy định ở khoản 1.
- Điều luật bổ sung hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm là hình phạt chính và giảm mức phạt tù từ 01 năm đến 06 năm xuống thành 06 tháng đến 03 năm (khoản 1); giảm mức phạt tù từ 06 năm đến 13 năm xuống thành 02 năm đến 07 năm (khoản 2); giảm mức phạt tù từ 13 năm đến 20 năm xuống thành 07 năm đến 12 năm (khoản 3); giảm hình phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân xuống thành 12 năm đến 20 năm (khoản 4).
- Để bảo đảm phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng trong tình hình mới, Điều luật điều chỉnh hợp lý mức tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác là của hối lộ từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng lên thành từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng (khoản 1); từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng lên thành từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (khoản 2); từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng lên thành từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (khoản 3); từ 300.000.000 đồng trở lên lên thành 1.000.000.000 đồng trở lên (khoản 4). Đồng thời bổ sung của hối lộ là lợi ích phi vật chất (khoản 1).
- Điều luật bổ sung tình tiết định khung tăng nặng lợi dụng chức vụ, quyền hạn (khoản 2).
- Thay mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ bằng mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (khoản 5).
- Để đáp ứng yêu cầu của Công ước của Liên Hợp quốc về đấu tranh chống tham nhũng, xử lý hành vi đưa hối lộ trong lĩnh vực tư, Điều luật bổ sung quy định người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này (khoản 6).
Điều 365. Tội môi giới hối lộ 
- Sửa đổi tội danh “Tội làm môi giới hối lộ” trong Điều 290 BLHS năm 1999 thành “Tội môi giới hối lộ” trong Điều 365 BLHS năm 2015.
- Điều luật bổ sung hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm là hình phạt chính và giảm mức phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm xuống thành 06 tháng đến 03 năm (khoản 1); giảm mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm xuống thành 02 năm đến 07 năm (khoản 2); giảm mức phạt tù từ 08 năm đến 15 năm xuống thành 05 năm đến 10 năm (khoản 3); giảm mức phạt tù từ 12 năm đến 20 năm xuống thành 08 năm đến 15 năm (khoản 4).
- Để bảo đảm phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng trong tình hình mới, Điều luật điều chỉnh mức tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác là của hối lộ từ 2.000.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng lên thành từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng (khoản 1); từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng lên thành từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (khoản 2); từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng lên thành từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng (khoản 3); từ 300.000.000 đồng trở lên lên thành 1.000.000.000 đồng trở lên (khoản 4). Đồng thời bổ sung của hối lộ là lợi ích phi vật chất (khoản 1). Đối với lợi ích phi vật chất, do khó lượng hóa được nên Điều luật chỉ quy định ở khoản 1.
- Điều luật bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng: phạm tội có tính chất chuyên nghiệp; lợi dụng chức vụ, quyền hạn (khoản 2).
- Thay mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ bằng mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng (khoản 5).
- Để xử lý hành vi môi giới hối lộ trong lĩnh vực tư, Điều luật bổ sung quy định người nào môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này (khoản 7).
Điều 366. Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi 
- Điều luật bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm là hình phạt chính và giảm mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm xuống thành 06 tháng đến 03 năm (khoản 1); giảm mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm xuống thành 02 năm đến 07 năm (khoản 2).
- Để bảo đảm phù hợp với tình hình kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng trong tình hình mới, Điều luật điều chỉnh hợp lý mức tiền, tài sản, lợi ích vật chất khác từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng lên thành từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, đồng thời bổ sung lợi ích phi vật chất (khoản 1). Sửa đổi quy định mức tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác từ 50.000.000 trở lên (khoản 2 Điều 291 BLHS năm 1999) thành từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng (khoản 2). Đồng thời, bổ sung khung tăng nặng phạm tội trong trường hợp tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (khoản 3).
- Thay mức phạt tiền là hình phạt bổ sung từ một lần đến năm lần số tiền hoặc giá trị tài sản đã trục lợi bằng mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng (khoản 4).
 
CHƯƠNG XXIV. CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp nói riêng trong tình hình mới, bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, yêu cầu đặt ra đối với việc sửa đổi, bổ sung các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là phải: (1) Thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp như Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020; (2) Cụ thể hóa quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định” tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013; (3) Tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn áp dụng các điều luật hiện hành; (4) Nội luật hóa các cam kết trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người.
Với những quan điểm chỉ đạo, định hướng, yêu cầu sửa đổi, bổ sung nêu trên, BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung tất cả 23 điều của chương XXII BLHS năm 1999 và bổ sung mới 02 điều. Theo đó, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp được quy định tại Chương XXIV BLHS năm 2015 gồm 25 điều. Trong đó sửa đổi, bổ sung tập trung vào 06 vấn đề sau: (1) Sửa đổi khái niệm, phạm vi các tội xâm phạm hoạt động tư pháp; (2) Sửa đổi phạm vi chủ thể, đối tượng tác động của tội phạm trong một số tội phạm; (3) Tăng nặng hình phạt đối với một số tội phạm cụ thể; (4) Bổ sung khung tăng nặng, các tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự và cụ thể hóa các tình tiết có tính “định tính” nhằm bảo đảm sự minh bạch, rõ ràng, tạo điều kiện để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất; (5) Sửa đổi, bổ sung Tội dùng nhục hình và Tội bức cung nhằm đáp ứng yêu cầu của Công ước chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục con người mà Việt Nam là thành viên; (6) tội phạm hóa đối với hành vi vi phạm quy định về giam giữ và hành vi gây rối trật tự phiên tòa (Điều 388 và Điều 391).
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Điều 367. Khái niệm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp
Điều 292 BLHS năm 1999 quy định về khái niệm các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án... chưa có tính khái quát và không chính xác, bởi đã đồng nhất khái niệm các cơ quan tư pháp (gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án) với khái niệm hoạt động tư pháp. Hoạt động tư pháp không chỉ là hoạt động do các cơ quan tư pháp tiến hành mà còn có sự tham gia của các cơ quan bổ trợ tư pháp, các cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra; cơ quan có thẩm quyền tiến hành hoạt động tư pháp (như Cơ quan giám định, định giá, Kiểm lâm, Hải quan, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát hỗ trợ tư pháp…).
Để có thể bao quát hết phạm vi các chủ thể tham gia vào hoạt động tư pháp, thay vì sử dụng phương pháp liệt kê các cơ quan như khái niệm cũ của BLHS năm 1999, khái niệm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp trong BLHS năm 2015 sử dụng thuật ngữ có tính khái quát cao như sau: “ các tội xâm phạm hoạt động tư pháp là những hành vi xâm phạm sự đúng đắn của hoạt động tố tụng và thi hành án ”. Hoạt động tố tụng là quá trình (trình tự) giải quyết vụ án, vụ việc ở các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính – lao động – kinh doanh thương mại… bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, mọi công dân góp phần vào việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật.
Như vậy, việc sửa đổi khái niệm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp theo hướng nêu trên đã tháo gỡ được những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn áp dụng các điều luật hiện hành. Tạo được sự thống nhất, đồng bộ với quy định của các đạo luật mới được Quốc hội thông qua như Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự.
Điều 368. Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội
1. Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 2 của điều luật xuống còn từ 05 năm đến 10 năm (trước đây quy định từ 03 năm đến 10 năm) để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh bị lạm dụng; cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” bằng:
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.
+ Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Đối với 02 người đến 05 người; Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu.
2. Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 3 của điều luật xuống còn từ 10 năm đến 15 năm (trước đây quy định từ 07 năm đến 15 năm) để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh bị lạm dụng; cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” bằng:
+ Dẫn đến việc kết án oan người vô tội về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên.
+ Làm người bị truy cứu TNHS oan tự sát.
Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 3: Đối với 06 người trở lên.
Điều 369. Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội
1. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 2 bằng:
+ Người không bị truy cứu TNHS bỏ trốn hoặc thực hiện hành vi cản trở điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
+ Dẫn đến việc người không bị truy cứu TNHS trả thù người tố giác, báo tin về tội phạm, người bị hại, nhân chứng.
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Đối với 02 người đến 05 người.
2. Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 3 của điều luật xuống còn từ 07 năm đến 12 năm (trước đây quy định từ 05 năm đến 12 năm) để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh bị lạm dụng; cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” bằng:
+ Không truy cứu TNHS người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
+ Người không bị truy cứu TNHS tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
+ Làm người bị hại tự sát.
Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 3: Đối với 05 người trở lên.
Điều 370. Tội ra bản án trái pháp luật
1. Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 2 của điều luật xuống còn từ 05 năm đến 10 năm (trước đây quy định từ 03 năm đến 10 năm) để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh bị lạm dụng; cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” bằng:
+ Kết án oan người vô tội về tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng.
+ Bỏ lọt tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng; người thực hiện tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng.
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện từ 11% đến 45%.
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng.
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu.
2. Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 3 của điều luật xuống còn từ 10 năm đến 15 năm (trước đây quy định từ 07 năm đến 15 năm) để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh bị lạm dụng; cụ thể hóa trường hợp “gây hậu rất quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” bằng:
+ Kết án oan người vô tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
+ Bỏ lọt tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện 46% trở lên.
+ Dẫn đến bị cáo, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện tự sát.
+ Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.
Điều 371. Tội ra quyết định trái pháp luật
1. Sửa đổi cấu thành tội phạm, theo đó mở rộng chủ thể là người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án cho thống nhất với Điều 367 về khái niệm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp; quy định rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra và cụ thể hành vi phạm tội như sau:
Người nào có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điều 368, 369, 370, 377 và 378[12] của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 2 của điều luật bằng:
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện từ 11% đến 45%.
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Có tổ chức; Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết có thai, người già yếu.
3. Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 3 của điều luật xuống còn từ 07 năm đến 12 năm (trước đây quy định từ 05 năm đến 12 năm) để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh bị lạm dụng; cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” bằng:
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện 46% trở lên.
+ Làm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện tự sát.
+ Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.
Điều 372. Tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật
1. Sửa đổi tên điều luật “Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật” (Điều 297 BLHS năm 1999) thành Tội ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp làm trái pháp luật. Sửa đổi cấu thành tội phạm, theo đó thay thuật ngữ “nhân viên tư pháp” bằng thuật ngữ “người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng và thi hành án” cho thống nhất với quy định của pháp luật hiện hành; quy định rõ hậu quả do hành vi phạm tội này gây ra; và cụ thể hóa hành vi phạm tội. Cụ thể như sau:
Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn ép buộc người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án làm trái pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Tách thành 02 khung hình phạt: khung phạt tù từ 02 năm đến 05 năm (khoản 2) và khung phạt tù từ 05 năm đến 10 năm (khoản 3) (trước đây chỉ quy định 01 khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm) để bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình sự; đồng thời, cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng” tại khoản 2 bằng:
+ Dẫn đến ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật.
+ Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Phạm tội 02 lần trở lên.
3. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 3 được tách ra bằng:
+ Dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.
+ Gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên.
Điều 373. Tội dùng nhục hình
1. Sửa đổi cơ bản về cấu thành tội phạm, theo đó, mở rộng chủ thể thực hiện hành vi không chỉ ở các giai đoạn tố tụng, thi hành án mà cả ở giai đoạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính. Cùng với đó, ngoài hành vi dùng vũ lực, nếu có hành vi đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm (bạo lực tinh thần) đối với người khác dưới bất kỳ hình thức nào cũng cấu thành tội phạm này. Cụ thể như sau:
Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 2 của điều luật bằng: Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khoẻ cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 60%.
Bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với 02 người trở lên; Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
3. Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 3 của điều luật xuống còn từ 07 năm đến 12 năm (trước đây quy định mức phạt tù từ 05 năm đến 12 năm) để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh bị lạm dụng; cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” bằng:
+ Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khoẻ cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
+ Làm người bị nhục hình tự sát.
4. Bổ sung khung tăng nặng trách nhiệm hình sự (khoản 4) và nâng mức hình phạt cao nhất là chung thân, cụ thể là: Phạm tội làm người bị nhục hình chết, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Điều 374. Tội bức cung
1. Mở rộng chủ thể của tội phạm này là người nào trong hoạt động tố tụng; đồng thời mở rộng phạm vi xử lý hình sự, theo đó, chỉ cần có hành vi trái pháp luật ép buộc người khai báo phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án hoặc vụ việc là cấu thành tội phạm này, kể cả thông tin đúng cũng như thông tin sai sự thật (trước đây phải là hành vi trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng) để nội luật hóa Công ước của Liên hợp quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể như sau:
Người nào trong hoạt động tố tụngsử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng” tại khoản 2 bằng: Làm sai lệch kết quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử;
Bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với 02 người trở lên; Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; Dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm người bị lấy lời khai, hỏi cung; Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; Ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai sai sự thật.
3. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 3 của điều luật bằng:
+ Làm người bị bức cung tự sát.
+ Dẫn đến bỏ lọt tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
4. Bổ sung khung tăng nặng trách nhiệm hình sự (khoản 4) và nâng mức hình phạt cao nhất là chung thân, cụ thể như sau:
 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm người bị bức cung chết;
b) Dẫn đến làm oan người vô tội;
c) Dẫn đến bỏ lọt tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Điều 375. Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, vụ việc
1. Hình sự hóa đối với hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ việc cho thống nhất với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự hiện hành; mở rộng phạm vi chủ thể của tội này, theo đó ngoài Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì những người khác có nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp (chẳng hạn như người phiên dịch, người giám định) cũng có thể trở thành chủ thể của tội này vì họ có cơ hội tiếp xúc với hồ sơ vụ án, vụ việc.
2. Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 2 của điều luật xuống còn từ 05 năm đến 10 năm (trước đây quy định từ 03 năm đến 10 năm) để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh bị lạm dụng; cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” bằng:
+ Dẫn đến việc giải quyết vụ án, vụ việc bị sai lệch.
+ Gây thiệt hại từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
3. Thu hẹp khoảng cách khung hình phạt tù tại khoản 3 của điều luật xuống còn từ 10 năm đến 15 năm (trước đây quy định từ 07 năm đến 15 năm) để thuận lợi cho thực tiễn áp dụng và tránh bị lạm dụng; cụ thể hóa trường hợp “gây hậu rất quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” bằng:
+ Dẫn đến việc kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm.
+ Làm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải chấp hành án, người bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị khởi kiện tự sát.
+ Gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên.
Điều 376. Tội thiếu trách nhiệm để người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù trốn
1. Sửa đổi cấu thành tội phạm, theo đó thay cụm từ “người bị giam, tạm giữ” bằng cụm từ “người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù”. Quy định cụ thể thiếu trách nhiệm là hành vi “không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về quản lý, canh gác, áp giải”; nâng mức phạt cải tạo không giam giữ lên đến 03 năm (trước đây quy định mức phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm) để xử lý nghiêm khắc hơn đối với tội phạm này. Cụ thể như sau:
1. Người nào được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý, canh gác, áp giải người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định về quản lý, canh gác, áp giải để người đó trốn thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
 a) Làm vụ án bị tạm đình chỉ;
 b) Người bỏ trốn trả thù người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng;
 c) Người bỏ trốn tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
2. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng” tại khoản 2 của điều luật bằng:
+ Làm vụ án bị đình chỉ.
+ Người bỏ trốn tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng.
+ Để từ 02 người đến 05 người bỏ trốn.
+ Để người thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng bỏ trốn.
+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
3. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 3 của điều luật bằng:
+ Người bỏ trốn tiếp tục thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
+ Để 06 người trở lên bỏ trốn.
+ Để người thực hiện tội phạm đặc biệt nghiêm trọng bỏ trốn.
Điều 377. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật
1. Sửa đổi cấu thành tội phạm này, theo đó ngoài hành vi không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do; và không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của luật như trong BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 còn quy định các hành vi cấu thành tội phạm như sau: 
+ Quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của luật;
+ Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh, quyết định theo quy định của pháp luật hoặc có lệnh, quyết định nhưng chưa có hiệu lực thi hành;
+ Hành vi không ra lệnh, quyết định gia hạn tạm giữ, tạm giam hoặc thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giữ, tạm giam khi hết thời hạn tạm giữ, tạm giam dẫn đến người bị tạm giữ, tạm giam bị giam, giữ quá hạn.
2. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng” tại khoản 2 của điều luật bằng:
+ Làm người bị giam, giữ trái pháp luật bị tổn hại về sức khoẻ với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
+ Làm người bị giam, giữ hoặc gia đình họ lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn.
Bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Giam, giữ trái pháp luật từ 02 người đến 05 người; Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
3. Nâng mức hình phạt trong khung hình phạt tại khoản 3 của điều luật lên thành từ 05 năm đến 12 năm (trước đây quy định từ 05 đến 10 năm) để bảo đảm xử lý nghiêm khắc hơn đối với tội phạm này; cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” bằng:
+ Làm người bị giam, giữ trái pháp luật tổn hại về sức khoẻ với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc chết.
+ Làm người bị giam, giữ tự sát.
+ Làm gia đình người bị giam, giữ ly tán.
Bổ sung các tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 3: Giam, giữ trái pháp luật 06 người trở lên.
Điều 378. Tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù
1. Sửa đổi cấu thành tội phạm này, theo đó thay cụm từ “người bị giam, tạm giữ” bằng cụm từ “người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù” cho thống nhất với quy định của pháp luật hiện hành.
2. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng” tại khoản 2 bằng:
+ Người được tha trái pháp luật bỏ trốn hoặc có hành vi cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
+ Người được tha trái pháp luật trả thù người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng.
Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Tha trái pháp luật từ 02 người đến 05 người.
3. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 3 của điều luật bằng: Người được tha trái pháp luật thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 3: Tha trái pháp luật 06 người trở lên.
Điều 379. Tội không thi hành án
1. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng” tại khoản 1 của điều luật bằng:
+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn.
+ Dẫn đến hết thời hiệu thi hành án.
+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
2. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng” tại khoản 2 của điều luật bằng:
+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng.
+ Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Phạm tội 02 lần trở lên.
3. Bổ sung khung tăng nặng của tội phạm (khoản 3) để bảo đảm phân hóa trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:
Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
+ Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên.
Điều 380. Tội không chấp hành án
1. Sửa đổi, bổ sung cấu thành tội phạm, theo đó bổ sung trường hợp “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” và bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ, đồng thời giảm mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm xuống còn từ 03 tháng đến 02 năm trong khoản 1 của Điều luật. Cụ thể như sau:
Người nào có điều kiện không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Bổ sung khung tăng nặng của tội phạm (khoản 2) như sau:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Chống lại chấp hành viên hoặc người đang thi hành công vụ;
b) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
c) Tẩu tán tài sản.
3. Bổ sung hình phạt tiền là hình phạt bổ sung (khoản 3) như sau:
Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Điều 381. Tội cản trở việc thi hành án
1. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng” tại khoản 1 của điều luật bằng:
+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án bỏ trốn.
+ Dẫn đến hết thời hiệu thi hành án.
+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
+ Gây thiệt hại từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.
2. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 2 của điều luật bằng:
+ Dẫn đến người bị kết án, người phải chấp hành án tiếp tục thực hiện tội phạm.
+ Dẫn đến người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền 200.000.000 đồng trở lên.
+ Gây thiệt hại 200.000.000 đồng trở lên.
Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Phạm tội 02 lần trở lên.  
Điều 382. Tội cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc khai báo gian dối
1. Mở rộng chủ thể của phạm tội này gồm người định giá tài sản, người dịch thuật, người bào chữa.
2. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả nghiêm trọng” tại khoản 2 của điều luật bằng: Dẫn đến việc giải quyết vụ án, vụ việc bị sai lệch.
3. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 3 của điều luật bằng: Dẫn đến việc kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm
Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 3: Phạm tội 02 lần trở lên.
Điều 383. Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định, định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu
Sửa đổi cấu thành tội phạm, theo đó thay vì quy định chung chung như trước đây, điều luật quy định cụ thể chủ thể của tội phạm gồm Người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người dịch thuật; không quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng của người bị hại vì họ đã bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản nên nếu họ từ chối khai báo, từ chối việc được bồi thường thiệt hại do tội phạm gây ra mà xử lý hình sự đối với họ là không thỏa đáng. Cụ thể như sau:
Người làm chứng nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này[13], người giám định, người định giá tài sản, người dịch thuật từ chối khai báo, trốn tránh việc kết luận giám định, định giá tài sản, thẩm định giá tài sản hoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
Điều 384. Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác trong việc khai báo, cung cấp tài liệu
1. Quy định cụ thể hành vi phạm tội và bổ sung đối tượng có thể bị mua chuộc, cưỡng ép gồm đương sự trong các vụ án hình sự, hành chính, dân sự, kinh tế, lao động; người định giá, người dịch thuật như sau:
Người nào mua chuộc hoặc cưỡng ép người làm chứng, người bị hại, đương sự trong các vụ án hình sự, hành chính, dân sự, kinh tế, lao động khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc không khai báo, không cung cấp tài liệu; mua chuộc hoặc cưỡng ép người giám định, người định giá tài sản kết luận gian dối, người phiên dịch, người dịch thuật dịch xuyên tạc, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
2. Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2: Dẫn đến việc giải quyết vụ án, vụ việc bị sai lệch.
Điều 385. Tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản
1. Hình sự hóa hành vi giải tỏa việc phong tỏa tài khoản mà không có quyết định của người có thẩm quyền, bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ và giảm mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm xuống còn từ 03 tháng đến 02 năm. Cụ thể như sau:
Người nào được giao giữ, quản lý tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong, tài khoản bị phong tỏathực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
a) Phá huỷ niêm phong, giải tỏa việc phong tỏa tài khoản mà không có quyết định của người có thẩm quyền;
b) Tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên.
2. Cụ thể hóa trường hợp “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” bằng:
+ Dẫn đến việc giải quyết vụ án, vụ việc bị sai lệch.
+ Dẫn đến bị can, bị cáo, người bị kết án, người phải thi hành án, người có nghĩa vụ thi hành án tẩu tán tài sản và không thi hành được nghĩa vụ thi hành án với số tiền 100.000.000 đồng trở lên.
Điều 386. Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị áp giải, đang bị xét xử
Thay cụm từ “Người nào đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải” bằng cụm từ “Người nào đang bị tạm giữ, tạm giam, áp giải”; bổ sung chủ thể là người đang chấp hành án phạt tù; và giảm mức phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm xuống còn từ 06 tháng đến 03 năm. Cụ thể như sau:
Người nào đang bị tạm giữ, tạm giam, áp giải, xét xử hoặc chấp hành án phạt tù mà bỏ trốn, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Điều 387. Tội đánh tháo người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, người đang bị áp giải, xét xử, chấp hành án phạt tù
Thay cụm từ “Người nào đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải” bằng cụm từ “Người nào đánh tháo người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, người đang bị áp giải” cho thống nhất với các luật khác; bổ sung đối tượng tác động là người đang bị chấp hành án phạt tù; và bỏ quy định “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 2 của điều luật.
Điều 388. Tội vi phạm quy định về giam giữ
Đây là điều luật mới được quy định trong BLHS năm 2015, nhằm hình sự hoá một số hành vi vi phạm của phạm nhân cũng như của cán bộ thực thi nhiệm vụ tại các cơ sở giam giữ, bảo đảm an ninh, an toàn cho các cơ sở giam giữ, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm, tạo môi trường lành mạnh cho các đối tượng cải tạo, trong sạch hoá đội ngũ cán bộ, nâng cao niềm tin của nhân dân đối với cơ quan thực thi pháp luật, cụ thể:
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, vi phạm quy định của pháp luật về giam giữ đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điều 119, 170, 252, 253, 254 và 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Gây rối hoặc chống lại mệnh lệnh của người có thẩm quyền trong quản lý giam giữ;
b) Hủy hoại, cố ý làm hư hỏng tài sản;
c) Cưỡng đoạt tài sản;
d) Đưa vào, tàng trữ, chiếm đoạt hoặc tổ chức sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần;
đ) Đưa vào, tàng trữ, sử dụng thiết bị thông tin liên lạc cá nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
d) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị cấm cư trú từ 01 năm đến 03 năm, cấm đảm nhiệm chức vụ từ 01 năm đến 03 năm.
Điều 389. Tội che giấu tội phạm
Bổ sung các trường hợp che giấu tội phạm cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này. Cụ thể đối với các tội sau:
+ Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người.
+ Tội vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng.
+ Tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng.
+ Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng.
+ Tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng.
+ Tội vi phạm quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng.
+ Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí.
+ Tội bắt cóc con tin.
+ Tội cướp biển.
+ Tội dùng nhục hình.
+ Tội bức cung.
Điều 390. Tội không tố giác tội phạm
Điều luật bổ sung quy định loại trừ nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này[14]; và nâng mức phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm lên thành từ 06 tháng đến 03 năm. Cụ thể như sau: Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Điều 391. Tội gây rối trật tự phiên tòa
Đây là điều luật mới được quy định trong BLHS 2015 nhằm xử lý hình sự đối với hành vi thoá mạ, gây rối, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm thành viên Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng khác (như Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án) và những người tham gia tố tụng, những người có mặt tại phiên tòa hoặc có hành vi đập phá tài sản tại phòng xét xử, bảo đảm sự tôn nghiêm của pháp luật, trật tự tại phiên toà, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của những người thực thi pháp luật tại phiên tòa. Cụ thể như sau:
1. Người nào tại phiên tòa mà thóa mạ, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm thành viên Hội đồng xét xử, những người khác có mặt tại phiên tòa hoặc có hành vi đập phá tài sản thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Gây náo loạn phiên tòa dẫn đến phải dừng phiên tòa;
b) Hành hung thành viên Hội đồng xét xử.
 
CHƯƠNG XXV. CÁC TỘI XÂM PHẠM NGHĨA VỤ, TRÁCH NHIỆM CỦA QUÂN NHÂN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA NGƯỜI  PHỐI  THUỘC VỚI QUÂN ĐỘI TRONG CHIẾN ĐẤU, PHỤC VỤ CHIẾN ĐẤU
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Quy định tại Chương XXIII về “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” BLHS 1999 đã tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quân đội tiến hành điều tra, truy tố, xét xử đối với các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân; cơ bản đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; đủ sức hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, một số nội dung vẫn chưa đảm bảo chặt chẽ, thiếu tính khoa học và không đảm bảo logic với các quy định khác của BLHS như: Tên Chương XXIII chưa phản ánh hết nội dung và tên các điều luật cũng như chủ thể của tội phạm cấu trúc điều luật chưa thật hợp lý, chưa xử lý hết các hành vi...tạo ra sự bất cập trong việc đấu tranh, phòng chống các tội phạm này. Để đáp ứng yêu cầu xử lý có hiệu quả đối với các hành vi xâm phạm đến nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; đồng thời đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp, giảm mức cao nhất của khung hình phạt, hạn chế một số tội có khung hình phạt tử hình; Chương XXV BLHS năm 2015 được xây dựng hoàn thiện hơn với 29 điều (Chương XXIII BLHS 1999 quy định 26 điều) ; trong đó có 28 điều quy định về tội phạm cụ thể được quy định từ Điều 393 đến Điều 420. Trong đó có tội mới như “Tội ra mệnh lệnh trái pháp luật”, một số tội ghép “Tội làm nhục đồng đội”, “Tội hành hung đồng đội” hoặc một số tội tách ra nhằm đảm bảo tính logic cũng như kỹ thuật lập pháp.
- Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân và trách nhiệm của người phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu là những hành vi do những người được quy định tại Điều 392 BLHS, có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện. Bao gồm:
+ Quân nhân tại ngũ, công nhân, viên chức quốc phòng;
+ Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện;
+ Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu;
+ Công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội.
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Điều 393. Tội ra mệnh lệnh trái pháp luật
Tội ra mệnh lệnh trái pháp luật là một tội danh mới được quy định trong BLHS năm 2015 và là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra mệnh lệnh trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 1, người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra mệnh lệnh trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Trong chiến đấu; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; d) Trong tình trạng khẩn cấp; đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
Khoản 3: Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
Điều 394. Tội chống mệnh lệnh
Tội chống mệnh lệnh là hành vi từ chối chấp hành mệnh lệnh hoặc cố ý không thực hiện mệnh lệnh được giao. Theo quy định tại khoản 1, người nào từ chối chấp hành hoặc cố ý không thực hiện mệnh lệnh của người có thẩm quyền, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
 Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan; b Lôi kéo người khác phạm tội; c) Dùng vũ lực; d) Gây hậu quả nghiêm trọng. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, “thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Trong chiến đấu; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; d) Trong tình trạng khẩn cấp; đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
Khoản 3: Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
So với quy định tại Điều 316 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 394 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau  đây:
- Thứ nhất, điều luật mô tả hành vi phạm tội chống mệnh lệnh là từ chối chấp hành hoặc cố ý không thực hiện mệnh lệnh của người có thẩm quyền (Điều 316 chỉ nêu hành vi người nào chống mệnh lệnh).
- Thứ hai, bổ sung các tình tiết phạm tội trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; và phạm tội trong tình trạng khẩn cấp là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt ở khoản 3.
- Thứ ba, về hình phạt: Hình phạt quy định theo chiều hướng giảm; mức hình phạt thấp nhất ở khoản 2 là 3 năm tù thay cho 5 năm tù và khung hình hình phạt ở khoản 3 là phạt tù từ 07 năm đến 15 năm thay cho khung hình phạt tù từ 10 năm đến 20 năm; khoản 4 quy định mức hình phạt từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân thay cho khung hình phạt từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Điều 395. Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh
Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh là hành vi chấp hành mệnh lệnh của người có thẩm quyền một cách lơ là, chậm trễ, tuỳ tiện gây hậu quả nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 1, người nào chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh của người có thẩm quyền gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Trong chiến đấu; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; d) Trong tình trạng khẩn cấp; đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 317 BLHS năm 1999, thì quy định tại Điều 395 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
- Thứ nhất, bổ sung các tình tiết phạm tội "Trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; trong tình trạng khẩn cấp” làm tình tiết định khung tại khoản 2.
- Thứ hai, hình phạt quy định theo chiều hướng tăng, hình phạt quy định ở khoản 1 có mức khởi điểm “từ 6 tháng đến 3 năm” thay cho từ “3 tháng đến 3 năm”; hình phạt được quy định tại khoản 2 là "phạt tù từ 03 năm đến 10 năm” thay cho khung hình phạt “tù từ 02 năm đến 10 năm".
Điều 396. Tội cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ
So với quy định tại Điều 318 BLHS năm 1999, thì Điều 396 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau  đây:
Thứ nhất, về cấu thành cơ bản tội phạm này thì người thực hiện hành vi cản trở đồng đội thực hiện nhiệm vụ chỉ bị coi là phạm tội khi hậu quả của hành vi đó là người bị cản trở không thực hiện được hoặc thực hiện không đầy đủ nhiệm vụ được giao (Điều 318 chỉ quy định người nào cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, thì bị phạt…).
Thứ hai, bổ sung các tình tiết phạm tội "Trong thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; trong tình trạng khẩn cấp” là tình tiết định khung tại khoản 3.
Thứ ba, hình phạt quy định theo chiều hướng giảm, mức hình phạt quy định tại khoản 2 là "phạt tù từ 02 năm đến 07 năm” thay cho mức "phạt tù từ 02 năm đến 10 năm"; mức hình phạt quy định tại khoản 3 là "phạt tù từ 05 năm đến 10 năm" thay cho mức "phạt tù từ 07 năm đến 15 năm".
Điều 397.  Tội làm nhục đồng đội
Tội làm nhục đồng đội là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự đồng đội trong khi giữa họ có quan hệ công tác. Theo quy định tại khoản 1, người nào trong quan hệ công tác mà xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự đồng đội, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm: a) Là chỉ huy hoặc sỹ quan; b) Đối với chỉ huy hoặc cấp trên; c) Vì lý do công vụ của nạn nhân; d) Trong khu vực có chiến sự; đ) Phạm tội 02 lần trở lên; e) Đối với 02 người trở lên; g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên; h) Làm nạn nhân tự sát.
So với quy định tại Điều 321 BLHS năm 1999, thì quy định tại Điều 397 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau  đây:
Thứ nhất, quy định các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt mới tại khoản 2 thay cho các tình tiết “phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”.
Thứ hai, hình phạt quy định theo hướng giảm nhẹ, theo đó, hình phạt tại khoản 1 là cải tạo không giam giữ đến 02 năm thay cho 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm thay cho phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm; mức hình phạt tại khoản 2 là “phạt tù từ 02 năm đến 05 năm” thay cho mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Điều 398. Tội hành hung đồng đội
Tội hành hung đồng đội là hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của đồng đội nhưng không thuộc trường hợp quy định tại Điều 135 BLHS (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh) và phải xuất phát từ quan hệ công tác. Theo quy định tại khoản 1, người nào trong quan hệ công tác mà cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của đồng đội mà không thuộc trường hợp quy định tại Điều 135 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Là chỉ huy hoặc sỹ quan; b) Đối với chỉ huy hoặc cấp trên; c) Vì lý do công vụ của nạn nhân; d) Trong khu vực có chiến sự; đ) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 319 và 321 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 398 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
Thứ nhất, bổ sung các tình tiết "a) Là chỉ huy hoặc sỹ quan; b) Đối với chỉ huy hoặc cấp trên; c) Vì lý do công vụ của nạn nhân; d) Trong khu vực có chiến sự" là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.
Thứ hai, bỏ hình phạt cảnh cáo và giảm hình phạt tại khoản 1 cải tạo không giam giữ đến 2 năm thay cho ba năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm thay cho từ 03 tháng đến 03 năm; mức hình phạt tại khoản 2 là “phạt tù từ 02 năm đến 07 năm” thay cho mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Điều 399. Tội đầu hàng địch
Tội đầu hàng định là là hành vi chấm dứt việc kháng cự và tự nguyện tuân theo yêu cầu của định trong chiến đấu. Theo quy định tại khoản 1, người nào đầu hàng địch, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan; b) Giao nộp cho địch vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự; c) Giao nộp tài liệu quan trọng hoặc khai báo bí mật công tác quân sự; d) Lôi kéo người khác phạm tội; đ) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.
Khoản 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: a) Giao nộp cho địch vật, tài liệu bí mật nhà nước hoặc khai báo bí mật nhà nước; b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 322 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 399 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
Thứ nhất, bỏ quy định “Trong chiến đấu” ở cấu thành cơ bản; bổ sung tình tiết "khai báo bí mật công tác quân sự" là tình tiết định khung hình phạt tại khoản 2.
Thứ hai, Bổ sung tình tiết “Giao nộp cho địch vật, tài liệu bí mật nhà nước hoặc khai báo bí mật nhà nước” là tình tiết định khung tại khoản 3.
Thứ ba, mức hình phạt quy định tại khoản 1 là "phạt tù từ 03 năm đến 10 năm" thay cho mức "hình phạt tù từ 05 năm đến 15 năm"; mức hình phạt quy định tại khoản 2 là "phạt tù từ 07 năm đến 15 năm" thay cho mức hình phạt tù "từ 12 năm đến 20 năm"; và quy định mức hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc chung thân thay cho mức phạt tù 20 năm, chung thân hay tử hình tại khoản 3.
Điều 400. Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh
Tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh là hành vi khai báo bí mật công tác quân sự hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù bình. Theo quy định tại khoản 1, người nào khi bị địch bắt làm tù binh mà khai báo bí mật công tác quân sự hoặc tự nguyện làm việc cho địch, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm: a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan; b) Đối xử tàn ác với tù binh khác; c) Lôi kéo người khác khai báo, làm việc cho địch; d) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng. 
Khoản 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm: a) Giao nộp cho địch vật, tài liệu bí mật nhà nước hoặc khai báo bí mật nhà nước; b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 323 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 400 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
Thứ nhất, bổ sung tình tiết "Lôi kéo người khác khai báo, làm việc cho địch" làm tình tiết tăng nặng định khung tại khoản 2 và tình tiết "Giao nộp cho địch vật, tài liệu bí mật nhà nước hoặc khai báo bí mật nhà nước" làm tình tiết tăng nặng định khung tại khoản 3.
Thứ hai, quy định mức hình phạt từ từ 05 năm đến 12 năm thay cho mức hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm tại khoản 2; và quy định mức hình phạt từ từ 12 năm đến 20 năm thay cho mức hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân tại khoản 3.
Điều 401. Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu
Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu là hành vi tự ý rời bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu. Theo quy định tại khoản 1, người nào tự ý rời bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm: a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan; b) Bỏ vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu bí mật công tác quân sự; c) Lôi kéo người khác phạm tội; d) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.
Khoản 3: Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
So với quy định tại Điều 324 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 401 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
Thứ nhất, tên tội danh được quy định là “Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu” để đồng bộ với nội dung mô tả trong cấu thành tội phạm.
Thứ hai, bổ sung từ "tự ý" trước từ "rời bỏ" để làm rõ tính trái phép của hành vi rời bỏ vị trí chiến đấu.
Thứ ba, tình tiết tăng nặng tại khoản 2 “Phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu quan trọng” được thay bằng “Trang bị kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu bí mật quân sự”
Thứ tư, hình phạt quy định theo chiều hướng giảm, quy định mức hình phạt từ từ 02 năm đến 07 năm thay cho mức hình phạt tù từ 05 năm đến 12 năm tại khoản 1; quy định mức hình phạt từ từ 05 năm  đến 12 năm thay cho mức hình phạt tù từ 10 năm đến 20 năm tại khoản 2; quy định mức hình phạt từ từ 10 năm đến 20 năm thay cho mức hình phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân tại khoản 3.
Điều 402. Tội đào ngũ
Tội đào ngũ là hành vi rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ trong thời chiến hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 1, người nào rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ trong thời chiến hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan; b) Lôi kéo người khác phạm tội; c) Mang theo, vứt bỏ vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu bí mật quân sự; d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
Khoản 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm: a) Trong chiến đấu; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; d) Trong tình trạng khẩn cấp; đ) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 325 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 402 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
Thứ nhất, tình tiết tăng nặng tại khoản 2 “Hoặc tài liệu quan trọng” được thay bằng “hoặc tài liệu bí mật quân sự”.
Thứ hai, bổ sung các tình tiết phạm tội "trong chiến đấu; trong khu vực có chiến sự; trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; trong tình trạng khẩn cấp" làm các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 3.
Thứ ba, hình phạt quy định theo chiều hướng giảm, hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm thay cho 06 tháng đến 05 năm tại khoản 1, hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm thay cho mức hình phạt tù từ 03 năm đến 08 năm tại khoản 2; hình phạt tù từ 05 năm  đến 12 năm thay cho mức hình phạt tù từ 07 năm đến 12 năm tại khoản 3.
Điều 403. Tội trốn tránh nhiệm vụ
Tội trốn tránh nhiệm vụ là hành vi tự gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của mình hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác để trốn tránh nhiệm vụ. Theo quy định tại khoản 1, người nào tự gây thương tích, gây tổn hại cho sức khoẻ của mình hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác để trốn tránh nhiệm vụ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan; b) Lôi kéo người khác phạm tội; c) Trong thời chiến; d) Trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; đ) Trong tình trạng khẩn cấp; e) Gây hậu quả nghiêm trọng.
Khoản 3: Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt từ từ 05 năm đến 10 năm.
So với quy định tại Điều 326 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 403 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
Thứ nhất, bổ sung tình tiết phạm tội "trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn và trong tình trạng khẩn cấp" làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.
Thứ hai, hình phạt quy định theo chiều hướng giảm, quy định mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm thay cho mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm tại khoản 1. 
Điều 404. Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự
Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự là hành vi cố ý làm cho người khác biết bí mật công tác quân sự khi hành vi đó không cấu thành tội gián điệp, tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước và tội cố ý làm lộ bí mật công tác quy định tại điều 110, 337 và 361 BLHS. Theo quy định tại khoản 1, người nào cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Là chỉ huy hoặc sỹ quan; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Trong chiến đấu; d) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 327 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 404 BLHS năm 2015 có một điểm mới là quy định các tình tiết  “Là chỉ huy hoặc sỹ quan; trong khu vực có chiến sự; Trong chiến đấu" là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.
 Điều 405. Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự
Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự là hành vi chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự, khi hành vi đó không cấu thành tội gián điệp; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật nhà nước; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quy định tại Điều 110, 337 và 361 của Bộ luật này. Theo quy định tại khoản 1, người nào chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác quân sự thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Là chỉ huy hoặc sỹ quan; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Trong chiến đấu; d) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 327 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 405 BLHS năm 2015 có một điểm mới là quy định các tình tiết “Là chỉ huy hoặc sỹ quan; trong khu vực có chiến sự; trong chiến đấu" là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.
Điều 406. Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự
Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự là hành vi không thực hiện đúng quy định về phòng gian bảo mật làm cho người khác biết được thông tin bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp cấu thành tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước, tội vô ý làm lộ bí mật công tác quy định tại Điều 338 và Điều 362 của bộ luật này. Theo quy định tại khoản 1, người nào vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Là chỉ huy hoặc sỹ quan; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Trong chiến đấu; d) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 328 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 406 BLHS năm 2015 có một điểm mới là  quy định các tình tiết  “Là chỉ huy hoặc sỹ quan; trong khu vực có chiến sự; trong chiến đấu" làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.
Điều 407. Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự
Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự là hành vi vi phạm quy định về việc sử dụng, vận chuyển và bảo quản tài liệu bí mật công tác quân sự dẫn tới hậu quả là tài liệu đó thoát ly khỏi sự quản lý của người được giao tài liệu để sử dụng, bảo quản hoặc vận chuyển. Theo quy định tại khoản 1, người nào làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc một trong các trường hợp “Làm mất vật, tài liệu bí mật nhà nước” và “Làm mất tài liệu bí mật công tác” quy định tại Điều 338 và Điều 362 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Là chỉ huy hoặc sỹ quan; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Trong chiến đấu; d) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 328 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 407 BLHS năm 2015 có một điểm mới là  quy định các tình tiết  “Là chỉ huy hoặc sỹ quan; trong khu vực có chiến sự; trong chiến đấu" làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.
Điều 408. Tội báo cáo sai
Tội báo cáo sai là hành vi báo cáo cấp có thẩm quyền những nội dung không có thật hoặc không đúng sự thật trong hoạt động quân sự gây hậu quả nghiêm trọng. Theo quy định tại Điều 408 BLHS, thì người nào cố ý báo cáo sai trong hoạt động quân sự gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Trong chiến đấu; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Trong tình trạng khẩn cấp; d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 329 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 408 BLHS năm 2015 có một điểm mới là nâng mức khởi điểm khung hình phạt ở khoản 1 từ “06 tháng đến 03 năm” thay cho mức “Từ 03 tháng đến 03 năm”; quy định các tình tiết  phạm tội “Trong chiến đấu; trong khu vực có chiến sự; trong tình trạng khẩn cấp” là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.
Điều 409. Tội vi phạm quy định về trực ban, trực chiến, trực chỉ huy
Tội vi phạm quy định về trực ban, trực chiến, trực chỉ huy là hành vi không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ trực ban, trực chiến, trực chỉ huy gây hậu quả nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 1, người nào không chấp hành nghiêm chỉnh chế độ trực ban, trực chiến, trực chỉ huy gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Trong chiến đấu; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; d) Trong tình trạng khẩn cấp; đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 330 BLHS năm 1999, thì quy định tại Điều 409 BLHS năm 2015 có một điểm mới là  quy định các tình tiết  phạm tội “Trong khu vực có chiến sự; trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; trong tình trạng khẩn cấp” làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.
Điều 410. Tội vi phạm quy định về bảo vệ
Tội vi phạm quy định về bảo vệ là hành vi không chấp hành nghiêm chỉnh quy định về tuần tra, canh gác, áp tải, hộ tống thuộc một trong các trường hợp sau đây: Làm người được bảo vệ, hộ tống bị tổn thương cơ thể; làm hư hỏng phương tiện kỹ thuật, thiết bị quân sự; làm thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng; gây hậu quả nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 1, người nào không chấp hành nghiêm chỉnh quy định về tuần tra, canh gác, áp tải, hộ tống, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
 Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Làm người được bảo vệ, hộ tống chết; b) Làm mất phương tiện kỹ thuật, thiết bị quân sự; c) Trong chiến đấu; d) Trong khu vực có chiến sự; đ) Lôi kéo người khác phạm tội; e) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 331 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 410 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây
Thứ nhất, ngoài dấu hiệu gây hậu quả nghiêm trọng, thì hành vi không chấp hành nghiêm chỉnh quy định về tuần tra, canh gác, áp tải, hộ tống bị coi là phạm tội vi phạm quy định về bảo vệ trong các trường hợp sau đây: Làm người được bảo vệ, hộ tống bị tổn thương cơ thể; làm hư hỏng phương tiện kỹ thuật, thiết bị quân sự; làm thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.
Thứ hai, bổ sung các tình tiết: Làm người được bảo vệ, hộ tống chết; làm mất phương tiện kỹ thuật, thiết bị quân sự; trong khu vực có chiến sự; lôi kéo người khác phạm tội làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.
Thứ ba, hình phạt quy định theo chiều hướng giảm, mức hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm thay cho mức hình phạt từ từ 03 năm đến 10 năm tại khoản 2.
Điều 411. Tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện
Tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện là hành vi không chấp hành nghiêm chỉnh những quy định bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện gây hậu quả nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 1, người nào không chấp hành nghiêm chỉnh những quy định bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 2: Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
So với quy định tại Điều 332 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 411 BLHS năm 2015 giữ nguyên cả về cấu thành tội phạm và hình phạt.
Điều 412. Tội vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự
Tội vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự là hành vi sử dụng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự không đúng quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về sử dụng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự gây hậu quả nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 1, người nào vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Trong chiến đấu; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 333 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 412 BLHS năm 2015 có một điểm mới là, bổ sung "trang bị kỹ thuật quân sự" làm đối tượng tác động của tội phạm và bổ sung tình tiết định khung khoản 2 “Phạm tội trong chiến đấu”
Điều 413. Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự
Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự là hành vi làm mất hoàn toàn giá trị sử dụng hoặc làm mất một phần giá trị sử dụng của vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự, nếu không thuộc trường hợp cấu thành tội phá hoại cơ sở vật chất- kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia quy định tại Điều 114 và Điều 303 BLHS. Theo quy định tại  khoản 1, thì người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, trang bị kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm: a) Trong chiến đấu; b) Trong khu vực có chiến sự; c) Lôi kéo người khác phạm tội; d) Gây hậu quả nghiêm trọng.
Khoản 3: Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
So với quy định tại Điều 334 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 413 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
Thứ nhất, bổ sung hành vi "cố ý làm hư hỏng" làm hành vi phạm tội.
Thứ hai, đối tượng tác động "phương tiện kỹ thuật quân sự" được thay bằng "trang bị kỹ thuật quân sự".
Thứ ba, bổ sung tình tiết "Lôi kéo người khác phạm tội" làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.
Thứ tư, gộp khoản 3 và khoản 4 Điều 334 BLHS 1999 vào khoản Điều 413 BLHS 2015; quy định mức hình phạt theo chiều hướng tăng: “Tù từ 07 năm đến 12 năm” thay cho mức hình phạt “Tù từ 05 năm đến 12 năm” tại khoản 2; “Tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân thay cho mức hình phạt “Tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân” tại khoản 3 và khoản 4.
Điều 414. Tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự
Tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự là hành vi làm cho vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thoát ly khỏi sự quản lý của đơn vị được giao quản lý, sử dụng; hoặc làm cho vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự bị hư hỏng, mất một phần bộ phận cấu tạo mà nếu muốn sử dụng thì phải sửa chữa, khắc phục; gây hậu quả nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 1, người nào được giao quản lý, được trang bị vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự mà làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
Khoản 2: Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
So với quy định tại Điều 335 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 414 BLHS năm 2015 giữ nguyên cả về cấu thành tội phạm và hình phạt.
Điều 415. Tội quấy nhiễu nhân dân
Tội quấy nhiễu nhân dân là hành vi vi phạm chế độ quan hệ với nhân dân, làm mất đoàn kết quân dân đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 1, người nào có hành vi quấy nhiễu nhân dân đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan; b) Lôi kéo người khác phạm tội; c) Trong khu vực có chiến sự; d) Trong khu vực đã có lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp; đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 338 BLHS năm 1999, thì Điều 415 BLHS năm 2015 có điểm mới là quy định mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm thay cho mức phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm tại khoản 1.
Điều 416. Tội lạm dụng nhu cầu quân sự trong khi thực hiện nhiệm vụ
Tội lạm dụng nhu cầu quân sự trong khi thực hiện nhiệm vụ là hành vi lợi dụng sự cần thiết cho nhiệm vụ quân sự gây thiệt hại về tài sản của Nhà nước, của tổ chức, cá nhân có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên. Theo quy định tại khoản 1, người nào trong khi thực hiện nhiệm vụ mà vượt quá phạm vi cần thiết của nhu cầu quân sự gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng của Nhà nước, của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2: Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
So với quy định tại Điều 339 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 416 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
Thứ nhất, dấu hiệu định tội "gây thiệt hại nghiêm trọng" được thay bằng giá trị tài sản bị gây thiệt hại từ "100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng".
Thứ hai, dấu hiệu định khung hình phạt “gây hậu quả rất quan trọng, đặc biệt quan trọng” tại khoản 2 được thay bằng thiệt hại tài sản từ 500.000.000 đồng trở lên”.
- Thứ ba, quy định mức hình phạt theo chiều hướng tăng, mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm thay cho mức phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm tại khoản 1.
Điều 417. Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh
Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là hành vi của người có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sỹ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh dẫn đến không tìm thấy thương binh, tử sỹ hoặc thương binh bị chết. Theo quy định tại khoản 1, người nào có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh dẫn đến không tìm thấy thương binh, tử sỹ hoặc thương binh bị chết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan; b) Đối với 02 thương binh hoặc 02 tử sỹ trở lên. 
So với quy định tại Điều 336 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 417 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
Thứ nhất, tên tội danh "Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu" được thay bằng "Tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh".
Thứ hai, thay các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt "gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" tại khoản 2 và khoản 3 được thay thế bởi các tình tiết "Là chỉ huy hoặc sĩ quan; đối với 02 thương binh hoặc 02 tử sỹ trở lên". 
Thứ ba, quy định mức hình phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm thay cho mức hình phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
Điều 418. Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ
Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ được tách ra từ một tình tiết định khung hình phạt (khoản 4 Điều 336) của “Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu” và là hành vi lợi dụng hoàn cảnh chiến sự để chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ. Theo quy định tại khoản 1, người nào chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan; b) Chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của 02 tử sỹ trở lên.
Điều 419. Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm
Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm là hành vi chiếm đoạt hoặc hủy hoại những thứ thu được của đối phương trong chiến đấu hoặc khi thu dọn chiến trường. Theo quy định tại khoản 1, người nào trong chiến đấu hoặc khi thu dọn chiến trường mà chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Là chỉ huy hoặc sĩ quan; b) Chiến lợi phẩm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; c) Gây ảnh hưởng xấu đến uy tín quân đội; d) Chiến lợi phẩm có giá trị trong quân sự; đ) Gây hậu quả nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.
Khoản 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) Chiến lợi phẩm trị giá 500.000.000 đồng trở lên; b) Chiến lợi phẩm có giá trị đặc biệt trong quân sự; c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
So với quy định tại Điều 337 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 419 BLHS năm 2015 có một số điểm mới sau đây:
Thứ nhất, bổ sung tình tiết "Gây ảnh hưởng xấu đến uy tín quân đội; chiến lợi phẩm có giá trị trong quân sự và chiến lợi phẩm trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng" làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt tại khoản 2.
Thứ hai, thay tình tiết "chiến lợi phẩm có giá trị đặc biệt lớn" bằng các tình tiết "Chiến lợi phẩm trị giá 500.000.000 đồng trở lên; chiến lợi phẩm có giá trị đặc biệt trong quân sự" tại khoản 3.
Thứ ba, quy định mức hình phạt theo chiều hướng giảm, mức hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm thay cho mức phạt tù từ 03 năm đến 08 năm tại khoản 2; quy định mức hình phạt tù từ 05 năm đến 10 năm thay cho mức phạt tù từ 07 năm đến 12 năm tại khoản 3.
Điều 420. Tội ngược đãi tù binh, hàng binh
Tội ngược đãi tù binh, hàng binh là hành vi vi phạm chính sách đối xử nhân đạo với tù binh, hàng binh. Theo quy định tại Điều 420 BLHS, thì người nào ngược đãi tù binh, hàng binh, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
So với quy định tại Điều 340 BLHS năm 1999, thì  quy định tại Điều 420 BLHS năm 2015 giữ nguyên cả về cấu thành tội phạm và hình phạt.
 
CHƯƠNG XXVI. CÁC TỘI PHÁ HOẠI HÒA BÌNH, CHỐNG LOÀI NGƯỜI VÀ TỘI PHẠM CHIẾN TRANH
1. TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG
Chương XXIV BLHS năm 1999 quy định về “các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh” được quy định với 4 Điều, bao gồm: (1) Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; (2) Tội chống loài người; (3) Tội phạm chiến tranh; (4) Tội tuyển mộ lính đánh thuê; tội làm lính đánh thuê. Tuy nhiên, trong thực tiễn nhiều năm qua, tại Việt Nam chúng ta chưa xử lý đối tượng nào liên quan tới nhóm tội được quy định trong Chương này. Cùng với sự biến động của tình hình thế giới trong thời gian qua; về khách thể bảo vệ, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội cũng như đối tượng tác động của tội phạm thuộc Chương này trong thời gian qua cũng đã có sự thay đổi. Vì thế, Chương XXVI BLHS năm 2015 đã có sự sửa đổi nhằm đảm bảo phù hợp và đầy đủ hơn, không để sót, lọt hành vi phạm tội, đồng thời tuân thủ kỹ thuật lập pháp; tội phạm được quy định thành 5 Điều, được quy định từ Điều 421 đến Điều 425 BLHS.
Các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý, xâm phạm vào nền hòa bình của các dân tộc, xâm phạm vào độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền khác.
2. NHỮNG NỘI DUNG SỬA ĐỔI, BỔ SUNG TRONG CÁC ĐIỀU LUẬT CỤ THỂ
Điều 421. Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược
Tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược được quy định tại Điều 421 BLHS là hành vi tuyên truyền, kích động chiến tranh xâm lược hoặc chuẩn bị, tiến hành, tham gia chiến tranh xâm lược nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền khác. Theo quy định tại khoản 1, thì bất kỳ người nào, có năng lực trách nhiệm hình sự hiện hành vi nêu trên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Khoản 2: Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
So với Điều 341 BLHS 1999 thì Điều 421 BLHS năm 2015 có những thay đổi như sau: Thứ nhất, đối tượng tác động của tội phạm trong cấu thành có sự thay đổi theo hướng mở rộng hơn, đó là “nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền khác”, thay vì “nhằm chống lại độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của một nước khác” như Điều 341 BLHS 1999. Thứ hai, Điều 421 BLHS năm 2015 bổ sung khoản 2 “Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành lệnh của cấp trên…”.
Điều 422. Tội chống loài người
Tội chống loài người được quy định tại Điều 422 BLHS là hành vi tiêu diệt hàng loạt dân cư của một khu vực, phá hủy nguồn sống, phá hoại cuộc sống văn hóa, tinh thần của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền, làm đảo lộn nền tảng của một xã hội nhằm phá hoại xã hội đó hoặc thực hiện hành vi diệt chủng khác hoặc thực hiện hành vi diệt sinh, diệt môi trường tự nhiên. Theo quy định tại khoản 1, thì người nào, có năng lực trách nhiệm hình sự hiện hành vi nêu trên thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
 Khoản 2: Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
So với Điều 342 BLHS 1999 thì Điều 422 BLHS năm 2015 có sự mở rộng về đối tượng tác động của tội phạm, không chỉ tác động tới “một nước” mà tác động tới “một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập có chủ quyền”. Đồng thời điều luật cũng quy định thêm khoản 2 với tình tiết giảm nhẹ TNHS “Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành lệnh của cấp trên…”.
Điều 423. Tội phạm chiến tranh
Tội phạm chiến tranh được quy định tại Điều 423 BLHS là hành vi ra lệnh hoặc trực tiếp tiến hành việc giết hại dân thường, người bị thương, tù binh, cướp phá tài sản, tàn phá các nơi dân cư, sử dụng các phương tiện hoặc phương pháp chiến tranh bị cấm hoặc thực hiện hành vi khác vi phạm nghiêm trọng pháp luật quốc tế hoặc các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Theo quy định tại khoản 1, thì người nào có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện các hành vi nêu trên thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Khoản 2: Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành lệnh của cấp trên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
So với Điều 343 BLHS 1999 thì Điều 423 BLHS năm 2015 bổ sung  khoản 2 “Phạm tội trong trường hợp do bị ép buộc hoặc do thi hành lệnh của cấp trên…”.
Điều 424. Tội tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê
Tội tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê được quy định tại Điều 424 BLHS là hành vi tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê nhằm chống lại một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
So với Điều 344 BLHS 1999 thì Điều 424 BLHS năm 2015 có sự thay đổi như sau: Thứ nhất, Điều 424 đã tách hành vi “Làm lính đánh thuê” thành một điều luật riêng; đồng thời bổ sung thêm hành vi “huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê” vào điều luật. Do đó, Điều 424 có tên là “Tội tuyển mộ, huấn luyện hoặc sử dụng lính đánh thuê”. Thứ hai, Điều 424 đã chỉ rõ đối tượng tác động của tội phạm phù hợp với quan điểm của Đảng, Nhà nước hiện nay là “nhằm chống lại một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền” thay vì “nhằm chống lại một nước bạn của Việt Nam hoặc một phong trào giải phóng dân tộc”.
Điều 425. Tội làm lính đánh thuê
Tội làm lính đánh thuê quy định tại Điều 425 BLHS là hành vi của một người có năng lực trách nhiệm hình sự, làm lính đánh thuê nhằm chống lại một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền thì bị phạt tù từ 05 năm đến 15 năm.
So với Điều 344 BLHS 1999 thì Điều 425 BLHS năm 2015 được tách từ khoản 2 Điều 344 BLHS năm 1999 thành một tội độc lập để phù hợp với chủ thể của tội này. Thứ hai, Điều 424 đã chỉ rõ đối tượng tác động của tội phạm phù hợp với quan điểm của Đảng, Nhà nước hiện nay là “nhằm chống lại một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ độc lập, có chủ quyền” thay vì “nhằm chống lại một nước bạn của Việt Nam hoặc một phong trào giải phóng dân tộc”./.
 
 
 

[1] Điều 75 Bộ luật Dân sự năm 2015 về Pháp nhân thương mại quy định:
1. Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên.
2. Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác.
3. Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật này, Luật doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.
[2] Khoản 2 Điều 12 BLHS quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:
a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);
b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);
c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);
d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);
đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);
e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).
[3] Theo khoản 2 Điều 14 thì người chuẩn bị phạm một trong các tội sau đây thì phải chịu trách nhiệm hình sự:
- Điều 108 (tội phản bội Tổ quốc); Điều 109 (tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân); Điều 110 (tội gián điệp); Điều 111 (tội xâm phạm an ninh lãnh thổ); Điều 112 (tội bạo loạn); Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 114 (tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 117 (tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 118 (tội phá rối an ninh); Điều 119 (tội chống phá trại giam); Điều 120 (tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 121 (tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân);
- Điều 123 (tội giết người); Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác);
- Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản);
- Điều 299 (tội khủng bố); Điều 300 (tội tài trợ khủng bố); Điều 301 (tội bắt cóc con tin); Điều 302 (tội cướp biển); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 324 (tội rửa tiền).
[4] Điểm c, Điều 16 của Tuyên bố các nguyên tắc cơ bản về vai trò của luật sư năm 1990 quy định “Các quốc gia phải bảo đảm luật sư không bị truy tố, hoặc bị đe dọa truy tố hình sự hay chịu bất kỳ chế tài hành chính, kinh tế hoặc chế tài khác về bất cứ hành vi nào được thực hiện phù hợp với những nhiệm vụ, tiêu chuẩn và đạo đức nghề nghiệp đã được công nhận”.
[5] Báo cáo số 35/BC-BTP ngày 12/02/2015 tổng kết thực tiễn thi hành BLHS.
[6] Tờ trình UBTVQH về dự án BLHS (sửa đổi) số 126/TTr-CP ngày 27/03/2015.
[7] Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
[8] 06 tội xâm phạm ANQG: phản bội Tổ quốc; hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; gián điệp; bạo loạn; khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; phá hoại cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
- 02 tội xâm phạm TMSK: giết người và hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
- 01 tội về kinh tế: sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh.
- 03 tội phạm về ma túy: sản xuất trái phép chất ma tuý; vận chuyển trái phép chất ma tuý; mua bán trái phép chất ma tuý.
- 01 tội xâm phạm ATCC: khủng bố.
- 02 tội phạm tham nhũng: tham ô tài sản; nhận hối lộ.
- 03 tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh: phá hoại hoà bình gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh.
[9] BLHS 1999 có 29/263 tội danh có quy định hình phạt tử hình, chiếm tỷ lệ trên 11% thuộc 09/14 nhóm tội phạm; BLHS 1999 (sửa đổi năm 2009) có 22/272 tội danh có quy định hình phạt tử hình, chiếm tỷ lệ trên 8% thuộc 09/14 nhóm tội phạm.
[10] Điều 188 (tội buôn lậu); Điều 189 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều 190 (tội sản xuất, buôn bán hàng cấm); Điều 191 (tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm); Điều 192 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 193 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm); Điều 194 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 195 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 196 (tội đầu cơ); Điều 200 (tội trốn thuế); Điều 203 (tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ); Điều 209 (tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán); Điều 210 (tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán); Điều 211 (tội thao túng thị trường chứng khoán); Điều 213 (tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm); Điều 216 (tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động); Điều 217 (tội vi phạm quy định về cạnh tranh); Điều 225 (tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan); Điều 226 (tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp); Điều 227 (tội vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên); Điều 232 (tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng); Điều 234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã); Điều 235 (tội gây ô nhiễm môi trường); Điều 237 (tội vi phạm phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường); Điều 238 (tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông); Điều 239 (tội đưa chất thải vào lãnh thổ Việt Nam); Điều 242 (tội huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản); Điều 243 (tội huỷ hoại rừng); Điều 244 (tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm); Điều 245 (tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên); Điều 246 (tội nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại).
[11]  Điều 377. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật.
[12] Tội truy cứu TNHS người không có tội; Tội không truy cứu TNHS người có tội; Tội ra bản án trái pháp luật; Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật; Tội tha trái pháp luật người bị bắt, người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành án phạt tù.
[13] Khoản 2 Điêu 19 BLHS năm 2015 quy định người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.
[14] Khoản 2 Điêu 19 BLHS năm 2015 quy định người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm theo quy định, trừ trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luật này.

Tác giả bài viết: Sưu tầm: Hoàng Thu Nhường

Ý kiến bạn đọc

 

Liên kết

Đang nhập

Tiện ích

global counter

  • Đang truy cập: 28
  • Hôm nay: 449
  • Tháng hiện tại: 17094
  • Tổng lượt truy cập: 873149