10:20 EST Thứ hai, 17/12/2018
Chào mừng bạn đến với trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Điện Biên

Tìm hiểu Bộ luật hình sự 2015

Đăng lúc: Thứ năm - 17/03/2016 03:13
Bộ luật hình sự được Quốc hội thông qua ngày 27/11/2015 (sau đây viết tắt là BLHS năm 2015) có 26 chương với 426 điều luật được chia làm 3 phần có hiệu lực bắt đầu từ ngày 01/7/2016. Bộ luật Hình sự 2015 loại bỏ 04 tội phạm, quy định 34 tội phạm mới, quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong 31 tội phạm.
            BLHS năm 2015có những điểm mới sau:
 
I. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG
 
1. Cơ sở chịu trách nhiệm hình sự (Điều 2)
BLHS năm 2015 quy định điểm mới nổi bật nhất là: Pháp nhân thương mại nào phạm một tội được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này thì phải chịu trách nhiệm hình sự.
 
2. Nguyên tắc xử lý (Điều 3)
1. Đối với người phạm tội, BLHS năm 1999 quy định nghiêm trị với cả những người cố ý gây hậu quả nghiêm trọng, BLHS năm 2015 quy định: chỉ nghiêm trị đối với người cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
BLHS năm 1999 chỉ quy định khoan hồng đối với người tự thú, BLHS năm 2015 quy định khoan hồng đối với cả người đầu thú (việc quy định này thể hiện chính sách nhân đạo hơn).
 
3. Hiệu lực của BLHS đối với hành vi phạm tội trên lãnh thổ VN
(Điều 5)
Quy định cụ thể: BLHS được áp dụng đối với các hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển mang quốc tịch Việt Nam hoặc tại vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam.
 
4. Hiệu lực của BLHS đối với những hành vi phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 6)
BLHS quy định thêm: Đối với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam đang ở tại biển cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam, thì người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo bộ luật này trong trường hợp điều ước q   uốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định (Khoản 3 Điều 6).
 
5. Hiệu lực của BLHS về thời gian
 
5.1.Theo Nghị quyết số 109/2015/QH13 ngày 27/11/2013 Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật hình sự: kể từ ngày 01/7/2016 BLHS năm 2015 được áp dụng như sau:
a) Tất cả các điều khoản của BLHS năm 2015 được áp dụng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội kể từ 0 giờ 00 ngày 01/7/2016.
b)Các điều khoản của BLHS năm 2015 xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới; miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích.
 
c) Các tội phạm mới quy định tại các Điều:
147 (tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích mua dâm),
154 (Tội mua bán hoặc chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người),
167 (Tội xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân),
187 (Tội  tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại),
212 (Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niên yết chứng khoán),
213 (Tội gian lận trong kinh doanh bảo hiểm),
214 (Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp),
215 (Tội gian lận bảo hiểm y tế),
216 (Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế),
217 (Tội vi phạm quy định về cạnh tranh),
218 (Tội vi phạm về hoạt động bán đấu giá tài sản),
219 (Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí),
 220 (Tội vi phạm quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng),
 221 (Tội vi phạm quy định của Nhà nước về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng),
222 (Tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng),
223 (Tội thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng),
224 (Tội vi phạm  quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng),
230 (Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất),
234 (Tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật hoang dã),
238 (Tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng chống thiên tai, vi phạm về quy định baỏ vệ bờ, bãi sông),
285 (Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật),
291 (Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng),
292 (Tội cung cấp dịch vụ trái phép trên mạng máy tính, mạng viễn thông),
293 (Tội sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh),
294 (Tội cố ý gây nhiễu có hại),
297 (Tội cưỡng bức lao động),
301 (Tội bắt cóc con tin),
302 (Tội cướp biển),
336 (Tội đăng ký hộ tịch trái pháp luật),
348 (Tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép),
388 (Tội vi phạm quy định về giam giữ),
391 (Tội gây rối trật tự phiên tòa),
393(Tội ra mệnh lệnh trái pháp luật),
418 (Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ); các điều luật bổ sung hành vi phạm tội mới, các điều luật quy định một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới; hạn chế phạm vi miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xóa án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 để giải quyết.
 
d) Quy định tại điểm b và điểm c khoản này cũng được áp dụng đối với các điều luật mới được tách ra từ các tội ghép trong BLHS 1999.
 
đ) Các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”; “số lượng lớn”, “số lượng rất lớn”, “số lượng đặc biệt lớn”; “thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất lớn”, “thu lợi bất chính đặc biệt lớn”; “đất có diện tích lớn”, “đất có diện tích rất lớn”, “đất có diện tích đặc biệt lớn”; “giá trị lớn”, “giá trị rất lớn”, “giá trị đặc biệt lớn”; “quy mô lớn” đã được áp dụng để khởi tố bị can trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì vẫn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
 
          e) Đối với hành vi mà BLHS năm 2015 bãi bỏ (các Điều 83 (Tội Hoạt động phỉ), 149 (Tội đăng ký kết hôn trái pháp luật), 159 (Tội kinh doanh trái phép), 165 (Tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng) của Bộ luật hình sự năm 1999) xảy ra trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà sau thời điểm đó vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì tiếp tục áp dụng quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (BLHS năm 1999) để xử lý; trường hợp vụ án đã được xét xử và đã có bản án, quyết định của Tòa án, thì không được căn cứ vào việc BLHS năm 2015 không quy định tội danh hoạt động phỉ, tội danh đăng ký kết hôn trái pháp luật, tội danh kinh doanh trái phép, tội danh cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng để kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành án về các tội danh trên hoặc đã chấp hành xong bản án thì vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản quy phạm pháp luật hình sự có hiệu lực trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 để giải quyết; nếu sau ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới bị phát hiện thì không khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử về các tội danh này (Điều 83, 149, 159, 165 của BLHS năm 1999) mà áp dụng quy định của BLHS năm 2015 để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo tội danh tương ứng.
 
g) Đối với những hành vi phạm tội đã có bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, thì không được căn cứ vào những quy định của BLHS năm 2015 có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 109.
 
i) Các quy định về trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245 và 246 của BLHS năm 2015 không áp dụng đối với những hành vi vi phạm của pháp nhân thương mại xảy ra trước ngày 01 tháng 7 năm 2016.
 
5.2. Kể từ ngày BLHS 2015 được công bố:
 
          a) Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm tội mà BLHS năm 2015 đã bỏ hình phạt tử hình, đối với người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi xét xử;
`        b) Hình phạt tử hình đã tuyên đối với người được nêu tại điểm a khoản này nhưng chưa thi hành án, thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;
 
c) Đối với người đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà có đủ các điều kiện quy định tại điểm c khoản 3 Điều 40 của BLHS năm 2015, thì không thi hành và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chuyển hình phạt tử hình thành hình phạt tù chung thân;
 
d) Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự năm 1999 quy định là tội phạm nhưng BLHS năm 2015 không quy định là tội phạm, bao gồm: tảo hôn; báo cáo sai trong quản lý kinh tế; vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sử dụng trái phép quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, quản chế hành chính... Nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;
 
đ) Không xử lý về hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm không được quy định tại khoản 2 Điều 12 và các điểm b, c khoản 2 Điều 14 của BLHS năm 2015; nếu vụ án đã được khởi tố, đang điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trong trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;
 
e) Những người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo quy định tại điểm d và điểm đ khoản này, thì đương nhiên đượcxóa án tích.
 
          II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ (trong phần chung BLHS)
 
1. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự (ĐIều 12)
Đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác (khoản 1 Điều 12)
Đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi:
BLHS năm 1999 quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
BLHS năm 2015 quy định người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:
Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người; Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi; Điều 170 (tội cưỡng đạt tài sản; Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); Điều 248, Điều 249, Điều 250, Điều 251, Điều 252, Điều 265, ĐIều 266, Điều 285, Điều 286, Điều 287, Điều 289, Điều 290, Điều 299, Điều 303, Điều 304 (như vậy người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự tổng số 29 loại tội phạm).
 
2. Đối với Điều 14 BLHS năm 2015 quy định về chuẩn bị phạm tội. Trong đó có liệt kê các tội phạm cụ thể, VKS các cấp cần so sánh, áp dụng về sự khác nhau giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015, nhất là với các trường hợp người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi (người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi chuẩn bị phạm tội: giết người, tội cố ý gây thương tích, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản thì phải chịu trách nhiệm hình sự).
 
3. Tại Điều 18 BLHS năm 2015 về che giấu tội phạm có điểm khác với quy định tại Điều 21 của BLHS năm 1999. Người che giấu tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự trừ trường hợp che giấu các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại Điều 389 của Bộ luậthình sự năm 2015.
 
4. Đối với các quy định tại các điểm a Khoản 1, điểm c Khoản 2, Khoản 3 Điều 29 BLHS năm 2015. Do sự thay đổi chính sách pháp luật, chuyển biến tình hình thì các VKS các cấp cần đối chiếu giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 và Nghị quyết 109 đồng thời rà soát, lên sanh sách và xem xét áp dụng theo đúng tinh thần của BLHS năm 2015 và Nghị quyết 109 của Quốc hội.
Điều 29 có hai nội dung mới chúng ta cần quan tâm đó là:
- Điểm b, khoản 2 quy định: Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, người phạm tội mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến không còn khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nữa, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
- Khoản 3 quy định: Người thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng do vô ý gây thiệt hại về tính mạng , sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tài sản của người khác và được người bị hại hoặc người đại diện của người bị hại tự nguyện hòa giải và đề nghị miễn trách nhiệm hình sự, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.
 
5. Điểm c, khoản 2 Điều 40 quy định:  không thi hành án tử hình đối với người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.
 
6. Điều 51 BLHS năm 2015 quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:có một số tình tiết mới được bổ sung so với khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 đó là:
 đ) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
l) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
0) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
p) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
q) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
x) người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của Liệt sỹ, người có công với cách mạng;.
Khoản 2 quy định: khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.
 Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ, người có công với cách mạng. Đây là tình tiết mới của BLHS năm 2015, các trường hợp này được áp dụng và được coi là tình tiết giảm nhẹ thuộc Khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 hiện nay.
 
7. Tại Điều 54 BLHS năm 2015 quy định về Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, Bộ luật hình sự năm 2015 mới bổ sung Khoản 2 Điều này, đây là điểm mới so với Điều 47 BLHS năm 1999:
Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể (khoản 2).
Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải ghi rõ trong bản án.
Theo tinh thần Nghị quyết 109 thì quy định này sẽ được áp dụng ngay trong các vụ án cụ thể.
 
8. Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội (Điều 57)
So với Điều 52 BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 có điểm khác biệt như sau:
- Đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình phạt được quy định trong các điều luật cụ thể (khoản 2), như vậy BLHS năm 2015 quy định trong từng tội phạm cụ thể, người người chuẩn bị phạm tội thì phải chịu mức hình phạt cụ thể, ví dụ như “tội bạo loạn” người chuẩn bị phạm tội bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Quy định nhẹ hơn so với BL năm 1999 , BLHS năm 1999 quy định mức hình phạt cao nhất đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội là 20 năm tù.
- Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức hình phạt mà điều luật quy định (khoản 3).
Như vậy giới hạn mức hình phạt đối với trường hợp phạm tội chưa đạt của BLHS năm 2015 nhẹ hơn so với giới hạn của BLHS năm 1999 – khoản 3 Điều 52 BLHS năm 1999 quy định: nếu điều luật được áp dụng có quy định khung hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình, thì chỉ có thể áp dụng các hình phạt này trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
 
9. Miễn chấp hành hình phạt (Điều 62) có điểm khác với quy định tại Điều 57 của BLHS năm 1999. Bộ luật hình sự năm 2015 quy định rõ ràng và cụ thể hơn về các trường hợp được miễn chấp hành hình phạt nên khi áp dụng vào các vụ án cụ thể nếu quy định của Bộ luật hình sự nào có lợi hơn cho người phạm tội thì sẽ được áp dụng (theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội).
- Khoản 3 quy định: Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên ba năm, chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng VKS, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.
- Khoản 4 quy định: Người bị kết án đến 3 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng VKS, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.
- Khoản 5 quy định: Người bị kết án phạt tiền đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt nhưng bị lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không thể tiếp tục chấp hành được phần hình phạt còn lại hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng VKS, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần tiền phạt còn lại.
 
10. Án treo (Điều 65) BLHS năm 2015 có điểm quy định mới so với Điều 60 BLHS năm 1999, cụ thể là:
Tại khoản 5 Điều 65 quy định: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. (quy định này nghiêm khắc hơn so với Luật 1999).
 
11. Tại Điều 69 BLHS năm 2015 về xóa án tích có điểm khác với quy định tại Điều 63 của BLHS năm 1999. BLHS năm 2015 quy định: Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích. Đây là điểm mới có lợi cho người phạm tội cần được áp dụng ngay.
 
12. Đương nhiên được xóa án tích (Điều 70) quy định có lợi hơn cho người bị kết án so với Điều 64 BLHS năm 1999, cụ thể:
 Khoản 2 quy định: Về thời hạn từ sau khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
b) 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm (BLHS 1999 quy định 03 năm trong trường hợp hình phạt tù đến 3 năm);
c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm (BLHS năm 1999 quy định 05 năm trong trường hợp hình phạt tù từ trên 03 năm đến 15 năm);
d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án (BLHS năm 1999 quy định là 07 năm).
 
13. Tại Điều 100 BLHS năm 2015 về hình phạt cải tạo không giam giữ với người chưa thành niên có điểm khác với quy định tại Điều 73 của BLHS năm 1999. Bộ luật mới quy định áp dụng hình phạt này cụ thể hơn và nhẹ hơn với từng độ tuổi của người chưa thành niên. Do vậy khi áp dụng vào các điều luật cụ thể theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội thì phải áp dụng các quy định mới trong BLHS năm 2015 về mức án nhẹ hơn đối với người chưa thành niên theo từng lứa tuổi.
 
14. Nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91)
Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm vào mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội (khoản 1)
Người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây và có nhiều tình tiết giam nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này:
a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại Điều 134 (tội cố ý gây thương tích..); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này.
Như vậy ngoài 8 điều luật nói trên thì khi người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm vào các tội khác thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và trường hợp nghiêm trọng mà có đủ các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này .
b) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật này, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4,5 và 6 (tội cố ý gây thương tích…); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy);  Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy) của Bộ luật này.
Như vậy ngoài 14 Điều luật nói trên, khi người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý đối với các loại tội phạm khác mà có đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều này thì có thể  được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 2 Chương này.
 
15. Tại Điều 102 BLHS năm 2015 về Quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt với người dưới 18 tuổi phạm tội – đây là Điều luật mới so với BLHS năm 1999. Trong đó quy định việc áp dụng hình phạt với từng lứa tuổi (nghiên cứu điều luật).
Với nguyên tắc có lợi cho người phạm tội theo tinh thần nghị quyết 109 của Quốc hội thì phải áp dụng các quy định mới trong BLHS năm 2015 về mức án nhẹ hơn đối với người chưa thành niên theo từng lứa tuổi đối với từng vụ án cụ thể.
 
16. Tại Điều 103 BLHS năm 2015 về Tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội với người dưới 18 tuổi phạm tội có điểm khác với quy định tại Điều 75 của BLHS năm 1999. Bộ luật mới quy định áp dụng hình phạt này cụ thể hơn và nhẹ hơn với từng độ tuổi của người dưới 18 tuổi (nghiên cứu điều luật).
Theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội thì phải áp dụng các quy định mới trong BLHS năm 2015 về mức án nhẹ hơn đối với người dưới 18 tuổi theo từng lứa tuổi khi áp dụng vào các điều luật cụ thể.
 
17. Tại Điều 107 BLHS năm 2015 về Xóa án tích với người dưới 18 tuổi phạm tội có điểm khác với quy định tại Điều 77 của BLHS năm 1999. Bộ luật mới quy định việc xóa án tích cụ thể hơn và nhẹ hơn với từng độ tuổi của người dưới 18 tuổi (nghiên cứu điều luật).
Theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội thì phải áp dụng các quy định mới trong BLHS năm 2015 về mức án nhẹ hơn đối với người 18 tuổi phạm tội theo từng lứa tuổi khi áp dụng vào các điều luật cụ thể.
 
Chương XI
NỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI PHÁP NHÂN
THƯƠNG MẠI PHẠM TỘI
(Các đồng chí nghiên cứu các điều luật từ 74 đến 89).

Tác giả bài viết: Nguyễn Hữu Sơn

Ý kiến bạn đọc

 

Liên kết

Đang nhập

Tiện ích

global counter

  • Đang truy cập: 6
  • Khách viếng thăm: 5
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 377
  • Tháng hiện tại: 20235
  • Tổng lượt truy cập: 876290