20:34, 26/09/2021
Chào mừng bạn đến với trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Điện Biên

Xác định tư cách tham gia tố tụng đối với trường hợp “Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”

Xác định tư cách tham gia tố tụng đối với trường hợp “Bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”
Giữ người trong trường hợp khẩn cấp là một trong những biện pháp ngăn chặn được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Theo đó, khi có căn cứ quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 110 BLTTHS thì những người được quy định tại khoản 2 Điều 110 BLTTHS có quyền ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp. Trong thời hạn 12 giờ, xét thấy có căn cứ và cần thiết phải tạm giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì những người được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 110 BLTTHS ra quyết định tạm giữ, lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và gửi ngay sang VKS cùng cấp kèm tài liệu để xét phê chuẩn.
     Để việc phối hợp áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát được chặt chẽ và thống nhất, liên ngành Trung ương ban hành Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19/10/2018 giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS (TT04).
       Cụ thể: Tại Điều 15, TT04 quy định chi tiết các tài liệu của Cơ quan điều tra phải thể hiện trong hồ sơ đề nghị phê chuẩn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Trong đó, tại khoản 3 Điều 15 TT04 quy định: “Việc ra quyết định tạm giữ người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được thực hiện trong thời hạn 12 giờ kể từ khi Cơ quan điều tra giữ người hoặc nhận người bị giữ (chưa cần có quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của Viện kiểm sát). Quyết định tạm giữ người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp được ra trước hoặc cùng với lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp”.
       Như vậy, theo quy định, khi hồ sơ đề nghị phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của Cơ quan điều tra chuyển sang Viện kiểm sát cùng cấp, ngoài những tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì còn kèm theo quyết định tạm giữ. Sau khi nghiên cứu tại đơn vị, có 02 quan điểm:
        - Quan điểm 1: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thấy có đủ căn cứ quy định tại điểm a hoặc b hoặc c khoản 1 Điều 110 BLTTHS, các tài liệu đó được thu thập đúng theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, cần thiết phải áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp. Tuy nhiên, sau khi xem xét thấy rằng: Hiện tại người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đã thay đổi tư cách tham gia tố tụng vì đã có quyết định tạm giữ (theo quy định khoản 1 Điều 59 BLTTHS quy định: “Người bị tạm giữ là người…đối với họ đã có quyết định tạm giữ”), tư cách người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp chấm dứt kể từ khi có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền đối với họ (một người ở cùng một thời điểm không thể có nhiều tư cách tham gia tố tụng). Mặt khác, theo quy định, trong BLTTHS không quy định biện pháp bắt được áp dụng đối với người bị tạm giữ. Do vậy, Viện kiểm sát không thể ra quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp của Cơ quan điều tra khi người đó đã có quyết định tạm giữ.
         - Quan điểm 2: Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thấy có đủ căn cứ quy định tại điểm a hoặc b hoặc c khoản 1 Điều 110 BLTTHS, các tài liệu đó được thu thập đúng theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, đảm bảo căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn. Do vậy, Viện kiểm sát ra quyết định phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp theo đề nghị của Cơ quan điều tra kể cả khi người đó có quyết định tạm giữ.
        Theo các đồng chí, đồng nghiệp quan điểm nào có căn cứ? ý kiến, quan điểm, đề xuất của đồng chí?

Tác giả bài viết: Vi Ngọc Sơn – Viện trưởng VKSND huyện Mường Chà

Ý kiến bạn đọc

 

Các tin khác