00:37, 23/10/2021
Chào mừng bạn đến với trang thông tin điện tử VKSND tỉnh Điện Biên

Khó khăn, vướng mắc trong việc xác định thời hạn tạm giữ trong tố tụng hình sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 118 BLTTHS “Thời hạn tạm giữ không quá 03 ngày kể từ khi Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt hoặc áp giải người bị giữ, người bị bắt về trụ sở của mình hoặc kể từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú”.
     Trong thực tế, đối với trường hợp “Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ người phạm tội tự thú, đầu thú” thì thời hạn tạm giữ được tính từ khi Cơ quan điều tra ra quyết định tạm giữ (không có vướng mắc). Đối với các trường hợp khác chưa có nhận thức thống nhất về thời điểm ra quyết định tạm giữ; việc khấu trừ thời gian giữ, bắt người vào thời hạn tạm giữ, cụ thể:
      - Trường hợp 1: Đối với trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra nhận người bị giữ, người bị bắt mà trước đó có hoạt động bắt, giữ của cá nhân, người có thẩm quyền (bắt quả tang; bắt truy nã; giữ người trong trường hợp khẩn cấp). Về trình tự, thủ tục bàn giao tài liệu và người bị bắt, giữ được lập biên bản giữa bên giao và bên nhận. Sau khi nhận bàn giao xong, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định tạm giữ, thời hạn của quyết định tạm giữ được tính từ thời gian cuối cùng trong biên bản giao nhận tài liệu và người bị bắt, giữ (biên bản giao nhận người bị bắt, giữ) không được quá 03 ngày. Tuy nhiên, nếu tính thời hạn tạm giữ như vậy sẽ không bình đẳng so với trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp thực hiện hoạt động bắt, giữ (được khấu trừ thời gian tính từ khi thực hiện hoạt động bắt, giữ đến khi ra quyết định tạm giữ và được trừ vào cuối thời gian của quyết định tạm giữ). Theo quy định của BLTTHS thì mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, do vậy không thể xảy ra bất bình đẳng về thời hạn tạm giữ giữa người bị bắt, giữ không do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp thực hiện với trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp thực hiện (không được khấu trừ và được khấu trừ vào thời hạn tạm giữ).
     - Trường hợp 2: Đối với trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp thực hiện hoạt động bắt, giữ và không thực hiện áp giải thì thời hạn tạm giữ được tính từ thời gian nào? (theo quy định  tại khoản 1 Điều 118 BLTTHS không quy định thời hạn tạm giữ đối với trường hợp này hoặc là mọi trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp thực hiện hoạt động bắt, giữ đều phải thực hiện hoạt động áp giải). Trong thực tế, một số Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện hoạt động bắt, giữ bên ngoài trụ sở của mình nhưng không ra quyết định áp giải, dẫn đến không có căn cứ xác định thời điểm ra quyết định tạm giữ. Vậy thời hạn tạm giữ được tính từ khi nào?
    - Trường hợp 3: Đối với trường hợp Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp thực hiện hoạt động bắt, giữ và thực hiện áp giải thì thời hạn tạm giữ được tính từ khi việc áp giải kết thúc về đến trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Mặt khác, theo quy định tại khoản 4 Điều 110 BLTTHS: “Trong thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc nhận người bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều phải lấy lời khai ngay và những người quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều này phải ra quyết định tạm giữ, ra lệnh bắt người bị giữ…”. Như vậy, đối với quy định này sẽ xảy ra 02 tình huống:
    + Do trở ngại khách quan mà việc áp giải về trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra vượt quá thời hạn 12 giờ kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp thì việc ra quyết định tạm giữ được thực hiện như thế nào?
    + Khi ra quyết định tạm giữ, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có được khấu trừ thời gian kể từ khi giữ người trong trường hợp khẩn cấp đến khi ra quyết định tạm giữ hay không? Việc khấu trừ đó được tính như thế nào? Vì theo mục 3 phần I Hướng dẫn tại văn bản số 2000/CSĐT(C44) ngày 12/6/2018 của Cơ quan CSĐT Bộ Công an xác định: “Thời hạn 12 giờ theo khoản 4 Điều 110 và khoản 1 Điều 114 nằm trong thời hạn 03 ngày tạm giữ theo quy định tại khoản 1 Điều 118”, quy định này mâu thuẫn với quy định tại khoản 1 Điều 118 BLTTHS cùng với Giải đáp khó khăn vướng mắc tại Hội nghị giao ban Văn phòng Cơ quan CSĐT 6 tháng đầu năm 2019 xác định: “Thời hạn tạm giữ được tính từ khi áp giải người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đó về đến trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra”.
    Từ các trường hợp cụ thể nêu trên, cần có sự thống nhất về thời điểm cũng như cách tính thời hạn tạm giữ của từng trường hợp cụ thể, rất mong các đồng chí, đồng nghiệp nghiên cứu, trao đổi cùng nhau nhận thức đúng đắn để áp dụng trong thực tế./.
Tác giả bài viết: Vi Ngọc Sơn – VKSND huyện Mường Chà

Ý kiến bạn đọc

 

Các tin khác